Tội vu khống người khác trên không gian mạng có thể bị phạt tù tối đa bao nhiêu năm

0
56

Thời gian qua, một số cá nhân đã dùng mạng xã hội để vu khống, làm ảnh hưởng uy tín, danh dự của người khác. Cơ quan công an cho rằng, nếu việc vu khống gây hậu quả nghiêm trọng sẽ bị xử lý hình sự với khung hình phạt cao nhất là 7 năm tù.


“Thánh Cô Cô Bóc” (tên thật Trần Thị Hương Giang, ngụ Hà Nội) bị bắt ngày 12.6 vì hành vi bôi nhọ danh dự và nhân phẩm người khác trên Facebook – Ảnh: C.T.V

Trao đổi với Thanh Niên Online về vấn đề này, Luật sư (LS) Phùng Thị Hòa (thuộc Đoàn LS TP.HCM) nêu ý kiến, không quan trọng vu khống một nhân viên bình thường hay một lãnh đạo cấp cao, chỉ cần chứng minh được người đó có những lời lẽ xuyên tạc, vu khống trên mạng xã hội gây hậu quả nghiêm trọng đối với người bị vu khống thì đã đủ yếu tố cấu thành tội vu khống.

LS Hòa phân tích, Điều 37 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định rõ: danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Điều 5 Nghị định 72/2013/NĐ-CP ngày 15/07/2013 về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng (có hiệu lực từ 01/09/2013) quy định các hành vi bị cấm trong đó có hành vi lợi dụng việc cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng nhằm mục đích đưa thông tin xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân.
Như vậy hành vi lên mạng xã hội vu khống người khác là hành vi vi phạm pháp luật và tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường từ 10 triệu đến 20 triệu đồng đối với hành vi cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác.
LS Hòa nêu ví dụ, nếu một cá nhân lên Facebook vu khống một người có chức vụ, gây ảnh hưởng lớn đến vị trí, công việc của họ thì điều đó được xem là gây hậu quả nghiêm trọng. Hành vi này đã đủ căn cứ yêu cầu cơ quan điều tra vào cuộc, khởi tố vụ án.

Người bị vu khống nên làm đơn tố cáo

Còn LS Lê Tấn Phương (thuộc Đoàn LS TP.HCM) cho rằng, phải xác định người đó vu khống có căn cứ không, bên bị vu khống có hành vi như bị vụ khống không, họ vu khống có cơ sở hay không… Nếu vu khống có cơ sở thì người bị vu khống gặp người vu khống giải thích, yêu cầu chấm dứt hành động làm ảnh hưởng uy tín đến người khác và buộc phải xin lỗi công khai. Nếu đã hòa giải mà họ không chấm dứt thì để cơ quan pháp luật vào cuộc.

Xem thêm:   Không đủ yếu tố cấu thành tội phạm đối với người cướp tiền giả

Hành vi tố cáo, bịa đặt thông tin không đúng sự thật làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của người khác thì có thể bị xem xét khởi tố về tội vu khống được quy định tại Điều 122 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009” – Theo đại úy Nguyễn Nam Hào, Cơ quan CSĐT Bộ Công an

Theo LS Phương, người nào bị vu khống trên các trang mạng xã hội nên làm đơn tố cáo với cơ quan công an để được giải quyết kịp thời, phòng ngừa hậu quả đáng tiếc xảy ra.
Theo đại úy Nguyễn Nam Hào, Cơ quan CSĐT Bộ Công an, hành vi tố cáo, bịa đặt thông tin không đúng sự thật làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của người khác thì có thể bị xem xét khởi tố về tội vu khống được quy định tại Điều 122 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009. Điều 122 Bộ luật Hình sự quy định rõ về tội danh này như sau: “Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm”. Người nào phạm tội có tổ chức, lợi dụng chức vụ, quyền hạn hay đối với nhiều người thì bị phạt tù từ 1 năm đến 7 năm tù.

Để xử lý một người về tội vu khống, cần chứng minh những thông tin trên mạng xã hội có phải là bịa đặt hay không và buộc phải chứng minh người đó biết rõ những điều họ đăng trên mạng xã hội là bịa đặt.

Theo đại úy Hào, bất cứ ai dùng mạng xã hội cũng không nên đăng tải những thông tin ảnh hưởng đến uy tín của người khác để tránh gây hậu quả đáng tiếc.

Thao khảo thêm >>> Mức phạt tù cho Tội vu khống là bao nhiêu năm ? Hướng dẫn đề nghị cảnh sát khởi tố ?

Sự phát triển của công nghệ thông tin, trong đó có mạng xã hội là một tiến bộ của nhân loại. Mạng xã hội giúp con người xóa đi khoảng cách về địa lý, tự do chia sẻ thông tin, suy nghĩ cảm xúc của mình… nhưng đây cũng là môi trường thuận lợi để kẻ xấu thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật, trong đó có việc bôi nhọ danh dự nhân phẩm của cá nhân, tổ chức…

Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được quy định rất cụ thể tại Bộ luật Dân sự năm 2015, theo đó: “Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ”; “Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình…”

Xem thêm:   Cách phân biệt vụ án hình sự và vụ án dân sự

Điểm d, e khoản 1 Điều 5 Nghị định số 72/2013/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng: nghiêm cấm các hành vi: “Đưa thông tin xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân”; “Giả mạo tổ chức, cá nhân và phát tán thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.

Hành vi thóa mạ, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của người khác trên mạng xã hội là vi phạm pháp luật; tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, trên thực tế việc quản lý không gian mạng là rất khó khăn, và để có thể xử lý được hành vi vi vi phạm thì trước hết phải xác định được chủ nhân của tài khoản có hành vi vi phạm đó.

Về xử lý hành chính: Theo quy định tại điểm g, khoản 3, Điều 66 Nghị định số 174/2013/NĐ-CP ngày 03/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi pham hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện thì hành vi “Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác;” sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng

– Những hành vi bôi nhọ danh dự nhân phẩm của người khác một cách nghiêm trọng nói trên có thể cấu thành “tội làm nhục người khác” ” và “tội vu khống” theo quy định tại Điều 155, Điều 156 Bộ luật hình sự năm 2015​:

Cụ thể, các điều luật này quy định như sau:

Điều 155. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

Điều 156. Tội vu khống có nội dung:

Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

– Có tổ chức;

– Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

Xem thêm:   Tội buôn lậu qua biên giới với tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới

– Đối với nhiều người;

– Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

– Đối với người thi hành công vụ;

– Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Theo chúng tôi, đổi với hành vi bị coi là xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự người khác trên mạng xã hội mà bị truy cứu về tội làm nhục người khác thì người phạm tội phải là người có hành vi: lăng mạ, chửi rủa thậm tệ có tính chất nhiều lần, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, danh dự của người bị xúc phạm đó. Ý thức chủ quan của người phạm tội là mong muốn cho người bị hại bị nhục với nhiều động cơ khác nhau, có thể trả thù chính người bị hại hoặc cũng có thể trả thù người thân của người bị hại.

Người bị hại phải là người bị xâm phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự nhưng thế nào là nhân phẩm, danh dự bị xâm phạm nghiêm trọng là một vấn đề khá phức tạp. Cùng một câu nói, đối với người này câu nói đó bị coi là xâm phạm nghiêm trọng đến danh dự, có người lại coi đó là bình thường…

Nhiều khái niệm “nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng” trong một số điều luật chưa được giải thích, hướng dẫn nên không tránh khỏi cách vận dụng khác nhau khi xét xử – Đó là một thực tiễn. Tuy nhiên từ niềm tin nội tâm, trên cơ sở quy định của pháp luật, phong tục tập quán, dư luận xã hội…thẩm phán sẽ cân nhắc để đánh giá được rằng ở mức độ nào thì bị coi là xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự.

Tóm lại, tùy theo tính chất, mức độ của hình vi gì bạn đã thực hiện mà nhẹ thì bị xử phạt vi phạm hành chính, nặng thì có thể bị khởi tố vụ án hình sự.

========================================================

ĐOÀN LUẬT SƯ HÀ NỘI

CÔNG TY LUẬT TNHH ĐỖ GIA VIỆT

Giám đốc - Luật sư:  Đỗ Ngọc Anh
Công ty luật chuyên:
Hình sự - Thu hồi nợ - Doanh nghiệp – Đất Đai – Trọng tài thương mại – Hôn nhân và Gia đình.
Văn phòng luật sư quận Cầu Giấy:  Phòng 6 tầng 14 tòa nhà VIMECO đường Phạm Hùng, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
Văn phòng luật sư quận Long Biên: Số 24 ngõ 29 Phố Trạm, Phường Long Biên, Quận Long Biên, Hà Nội
Văn phòng luật sư Hải Phòng: Số 102, Lô 14 đường Lê Hồng Phong, Phường Đằng Lâm, Quận Hải An, Hải Phòng.
Điện thoại: 0944 450 105
Email: luatdogiaviet@gmail.com
Hệ thống Website:
www.luatdogiaviet.vn
#luatsubaochua #luatsutranhtung #luatsuhinhsu #luatsudatdai #thuhoino