Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định 07 trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự tại Chương IV, từ Điều 20 đến Điều 26: hành vi tuy gây thiệt hại nhưng không bị coi là tội phạm và người thực hiện không phải chịu trách nhiệm hình sự. Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi Bộ luật Hình sự (hiệu lực 01/7/2025) không thay đổi các điều này.
- Điều 20 – Sự kiện bất ngờ: không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả.
- Điều 21 – Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự: mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi.
- Điều 22 – Phòng vệ chính đáng và Điều 23 – Tình thế cấp thiết: chống trả, gây thiệt hại ở mức cần thiết; vượt quá giới hạn thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.
- Điều 24 – Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội; Điều 25 – Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ; Điều 26 – Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên.
- Không thuộc nhóm này: phạm tội do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự (Điều 13).

“Loại trừ trách nhiệm hình sự” là chế định quan trọng nhất để phân biệt giữa hành vi phạm tội và hành vi gây thiệt hại nhưng hợp pháp hoặc không có lỗi. Trong thực tiễn, các vụ đánh nhau, tai nạn, bắt trộm, bác sĩ xảy ra rủi ro nghề nghiệp… đều có thể được xem xét theo một trong bảy trường hợp này. Bài viết phân tích từng điều luật, ranh giới “vượt quá giới hạn” và cách chứng minh khi làm việc với cơ quan điều tra.
Loại trừ trách nhiệm hình sự là gì? Khác gì với miễn trách nhiệm hình sự?
Loại trừ trách nhiệm hình sự nghĩa là hành vi ngay từ đầu không cấu thành tội phạm vì thiếu yếu tố lỗi hoặc được pháp luật cho phép, nên không có trách nhiệm hình sự để truy cứu. Khác với miễn trách nhiệm hình sự (Điều 29 Bộ luật Hình sự): hành vi vẫn là tội phạm nhưng người phạm tội được miễn truy cứu vì có căn cứ như chuyển biến tình hình, bị bệnh hiểm nghèo, tự thú và lập công, hoặc đã hòa giải, bồi thường trong một số tội ít nghiêm trọng.
| Tiêu chí | Loại trừ trách nhiệm hình sự (Điều 20–26) | Miễn trách nhiệm hình sự (Điều 29) | Không phải tội phạm do tính chất nguy hiểm không đáng kể (khoản 2 Điều 8) |
|---|---|---|---|
| Bản chất hành vi | Không phải tội phạm | Là tội phạm | Không phải tội phạm |
| Hệ quả tố tụng | Không khởi tố; đã khởi tố thì đình chỉ (khoản 2 Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự: “hành vi không cấu thành tội phạm”) | Đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án; có thể vẫn bị xử lý hành chính, kỷ luật | Xử lý hành chính hoặc biện pháp khác |
| Án tích | Không | Không | Không |
| Bồi thường dân sự | Có thể vẫn phải bồi thường (ví dụ vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết — Điều 594, 595 Bộ luật Dân sự 2015) | Vẫn phải bồi thường | Vẫn phải bồi thường |
07 trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự 2015
| Điều luật | Trường hợp | Điều kiện cốt lõi | Khi nào vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự |
|---|---|---|---|
| Điều 20 | Sự kiện bất ngờ | Người thực hiện hành vi không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả nguy hại cho xã hội | Nếu có thể và buộc phải thấy trước hậu quả (vô ý do cẩu thả, Điều 11) thì vẫn là tội phạm |
| Điều 21 | Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự | Đang mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi — phải có kết luận giám định pháp y tâm thần | Chỉ hạn chế (không mất hẳn) khả năng nhận thức → vẫn chịu trách nhiệm, được xem là tình tiết giảm nhẹ (điểm q khoản 1 Điều 51); say rượu, bia vẫn chịu trách nhiệm (Điều 13) |
| Điều 22 | Phòng vệ chính đáng | Chống trả một cách cần thiết người đang xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc người khác, để bảo vệ các lợi ích đó | Chống trả rõ ràng quá mức cần thiết → vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (khoản 2): tội giết người (Điều 126) hoặc cố ý gây thương tích (Điều 136) do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, mức hình phạt nhẹ hơn |
| Điều 23 | Tình thế cấp thiết | Vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa | Thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết → chịu trách nhiệm hình sự (khoản 2) |
| Điều 24 | Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội | Để bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội mà không còn cách nào khác, buộc phải dùng vũ lực cần thiết gây thiệt hại cho người bị bắt giữ | Dùng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết → chịu trách nhiệm hình sự (khoản 2), ví dụ đánh trộm đã bị khống chế |
| Điều 25 | Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ | Đã tuân thủ đúng quy trình, quy phạm, áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa mà vẫn gây thiệt hại | Không áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa → chịu trách nhiệm hình sự (khoản 2) |
| Điều 26 | Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên | Trong lực lượng vũ trang nhân dân, thi hành mệnh lệnh để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành; người ra mệnh lệnh chịu trách nhiệm | Không áp dụng với các tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược, chống loài người, tội phạm chiến tranh (Điều 421, 422, 423) |
Phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết khác nhau ở điểm nào?
Đây là hai trường hợp được viện dẫn nhiều nhất và cũng dễ nhầm nhất. Điểm phân biệt căn bản:
| Tiêu chí | Phòng vệ chính đáng (Điều 22) | Tình thế cấp thiết (Điều 23) |
|---|---|---|
| Nguồn nguy hiểm | Hành vi tấn công trái pháp luật của con người | Bất kỳ nguy cơ nào: thiên tai, súc vật, sự cố kỹ thuật, kể cả hành vi của người |
| Thiệt hại gây ra cho ai | Chính người đang tấn công | Lợi ích của người thứ ba hoặc lợi ích khác không liên quan đến nguồn nguy hiểm |
| Mức thiệt hại cho phép | Có thể lớn hơn thiệt hại bị đe dọa, miễn là “cần thiết” (không bắt buộc là cách duy nhất) | Phải nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa và là cách duy nhất |
| Thời điểm | Khi hành vi xâm phạm đang diễn ra (hoặc đe dọa ngay tức khắc); tấn công đã kết thúc mà còn đánh tiếp là trả thù, không phải phòng vệ | Khi nguy cơ đang thực tế đe dọa |
| Bồi thường dân sự | Phòng vệ chính đáng không phải bồi thường; vượt quá giới hạn phải bồi thường (Điều 594 Bộ luật Dân sự 2015) | Người gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải bồi thường; người gây ra tình thế cấp thiết phải bồi thường (Điều 595) |
Ví dụ hay gặp: bị kẻ cầm dao tấn công, dùng gậy đánh gãy tay kẻ đó để ngăn chặn là phòng vệ chính đáng; kẻ đó đã bỏ chạy mà vẫn đuổi theo đánh tiếp thì không còn là phòng vệ. Lái xe đánh lái tránh em bé chạy ra đường, đâm hỏng xe máy đang dựng ven đường là tình thế cấp thiết (thiệt hại tài sản nhỏ hơn tính mạng). Xem thêm bài phân tích thế nào là phòng vệ chính đáng và sự khác nhau giữa phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết.
Bắt trộm, bắt cướp gây thương tích có bị xử lý hình sự không?
Điều 24 Bộ luật Hình sự 2015 là quy định mới so với Bộ luật năm 1999, bảo vệ người dân tham gia bắt giữ tội phạm. Ba điều kiện: (1) người bị bắt giữ là người đang thực hiện hoặc vừa thực hiện hành vi phạm tội; (2) việc dùng vũ lực là cần thiết, không còn cách nào khác để bắt giữ; (3) thiệt hại gây ra không rõ ràng vượt quá mức cần thiết.
Nếu người bị bắt đã bị khống chế, không còn khả năng chống cự hoặc bỏ chạy mà vẫn tiếp tục đánh đập, người bắt giữ có thể bị truy cứu về tội cố ý gây thương tích (Điều 134), giết người (Điều 123) hoặc bắt, giữ người trái pháp luật (Điều 157). Thực tiễn xét xử nhiều vụ “đánh hội đồng kẻ trộm chó” là ví dụ điển hình của việc vượt quá giới hạn này.
Làm sao để được áp dụng trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự?
Cơ quan điều tra không mặc nhiên xác định một hành vi là phòng vệ chính đáng hay sự kiện bất ngờ. Người bị tố giác, bị tạm giữ cần chủ động chứng minh ngay từ giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo:
- Giữ nguyên hiện trường, thu thập chứng cứ chứng minh hành vi tấn công hoặc nguy cơ có thật: camera, người làm chứng, tin nhắn đe dọa, hung khí của bên tấn công, vết thương của chính mình.
- Trình báo sớm với Công an cấp xã hoặc Cơ quan điều tra, nêu rõ diễn biến, trình tự ai tấn công trước — lời khai đầu tiên có giá trị rất lớn.
- Yêu cầu giám định thương tích của cả hai bên; với trường hợp Điều 21, đề nghị trưng cầu giám định pháp y tâm thần (cơ quan tố tụng bắt buộc trưng cầu khi có nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự — Điều 206 Bộ luật Tố tụng hình sự).
- Mời luật sư từ khi bị triệu tập, tạm giữ: luật sư có quyền có mặt khi lấy lời khai, thu thập và đưa ra chứng cứ (Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự) và đề nghị không khởi tố vì “hành vi không cấu thành tội phạm” (khoản 2 Điều 157).
- Nếu đã bị khởi tố: đề nghị đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án hoặc đề nghị Tòa án tuyên không phạm tội; trường hợp vượt quá giới hạn, đề nghị áp dụng đúng tội danh có khung hình phạt nhẹ (Điều 126, 136) và tình tiết giảm nhẹ (điểm c, đ khoản 1 Điều 51).
Người bị bệnh tâm thần gây án: không phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh (Điều 49 Bộ luật Hình sự). Nếu phạm tội trong khi có năng lực nhưng mất năng lực trước khi kết án thì chữa bệnh xong vẫn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự (khoản 2 Điều 49).
Bài viết liên quan
- Thế nào là phòng vệ chính đáng? Quyền tự vệ hợp pháp
- Sự khác nhau giữa phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết
- Bồi thường thiệt hại khi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
- Bị đánh gây thương tích: thủ tục tố giác, khởi tố và đòi bồi thường
- Quy định về mời luật sư bào chữa trong vụ án hình sự
- Thủ tục bảo lĩnh tại ngoại 2026
Câu hỏi thường gặp
Loại trừ trách nhiệm hình sự gồm những trường hợp nào?
Bộ luật Hình sự 2015 quy định 07 trường hợp tại Điều 20–26: sự kiện bất ngờ; tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự; phòng vệ chính đáng; tình thế cấp thiết; gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội; rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ; thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên.
Loại trừ trách nhiệm hình sự khác miễn trách nhiệm hình sự thế nào?
Loại trừ trách nhiệm hình sự (Điều 20–26) nghĩa là hành vi không cấu thành tội phạm nên không có trách nhiệm hình sự. Miễn trách nhiệm hình sự (Điều 29) nghĩa là hành vi vẫn là tội phạm nhưng người phạm tội được miễn truy cứu do có căn cứ luật định như chuyển biến tình hình, bệnh hiểm nghèo, tự thú và lập công, hoặc đã hòa giải, bồi thường với bị hại trong một số tội ít nghiêm trọng.
Phòng vệ chính đáng có phải chịu trách nhiệm hình sự không?
Không. Theo khoản 1 Điều 22 Bộ luật Hình sự 2015, phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm. Tuy nhiên nếu chống trả rõ ràng quá mức cần thiết thì là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng và phải chịu trách nhiệm hình sự theo tội danh tương ứng với khung hình phạt nhẹ hơn (Điều 126 giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; Điều 136 cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng).
Say rượu phạm tội có được loại trừ trách nhiệm hình sự không?
Không. Điều 13 Bộ luật Hình sự 2015 quy định người phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự. Tình trạng say rượu không thuộc Điều 21 về bệnh tâm thần.
Đánh trộm gây thương tích có bị xử lý hình sự không?
Nếu dùng vũ lực cần thiết để bắt giữ người đang phạm tội mà không còn cách nào khác thì không phải chịu trách nhiệm hình sự (Điều 24). Nhưng khi kẻ trộm đã bị khống chế hoặc bỏ chạy mà vẫn đánh tiếp, hoặc dùng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết, người đánh có thể bị truy cứu về tội cố ý gây thương tích (Điều 134), giết người (Điều 123) hoặc bắt, giữ người trái pháp luật (Điều 157).
Người tâm thần gây án có bị đi tù không?
Người thực hiện hành vi nguy hiểm trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự (Điều 21) nhưng bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh theo Điều 49. Việc xác định phải dựa trên kết luận giám định pháp y tâm thần do cơ quan tố tụng trưng cầu; chỉ hạn chế khả năng nhận thức thì vẫn chịu trách nhiệm và được giảm nhẹ.
Cần luật sư hình sự bảo vệ trong vụ việc phòng vệ, bắt giữ tội phạm?
Luật sư hình sự Công ty Luật Đỗ Gia Việt tham gia ngay từ giai đoạn giải quyết tố giác, thu thập chứng cứ chứng minh phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết hoặc sự kiện bất ngờ, đề nghị không khởi tố hoặc đình chỉ vụ án. Gọi hotline 094.445.0105 hoặc gửi yêu cầu qua trang liên hệ.
Lưu ý: Nội dung mang tính tham khảo chung, cập nhật theo quy định tại thời điểm đăng tải; không thay thế tư vấn cho một vụ việc cụ thể.