Cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn là nghĩa vụ pháp lý bắt buộc, không phải việc tự nguyện. Người có khả năng mà từ chối hoặc trốn tránh có thể bị phạt tiền 5.000.000 – 10.000.000 đồng và buộc thực hiện nghĩa vụ (Điều 57 Nghị định 144/2021/NĐ-CP); nặng hơn thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng theo Điều 186 Bộ luật Hình sự 2015 với mức cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc tù từ 03 tháng đến 02 năm.
- Điều 186 Bộ luật Hình sự 2015 chỉ áp dụng khi người có nghĩa vụ có khả năng thực tế để cấp dưỡng mà vẫn từ chối, trốn tránh, đồng thời làm người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. Điều luật này không bị sửa đổi bởi Luật số 86/2025/QH15.
- Nếu đã bị cưỡng chế thi hành án hoặc đã bị xử phạt hành chính mà vẫn không chấp hành bản án, người vi phạm có thể bị xử lý về tội không chấp hành án — Điều 380 Bộ luật Hình sự 2015, phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm, khung tăng nặng 02 – 05 năm.
- Về hành chính, ngoài mức 5 – 10 triệu đồng nêu trên, hành vi không thực hiện công việc phải làm theo bản án hoặc trì hoãn thi hành án khi có điều kiện thi hành còn bị phạt 3.000.000 – 5.000.000 đồng theo khoản 3 Điều 64 Nghị định 82/2020/NĐ-CP.
- Công cụ hữu hiệu nhất vẫn là thi hành án dân sự: Chấp hành viên được trừ vào thu nhập của người phải thi hành án, mức cao nhất 30% tổng số tiền nhận hằng tháng (Điều 76 Luật Thi hành án dân sự 2025 số 106/2025/QH15, hiệu lực từ 01/7/2026).
- Thời hiệu yêu cầu thi hành án là 05 năm; với bản án thi hành theo định kỳ như cấp dưỡng, thời hạn 05 năm được tính riêng cho từng kỳ, kể từ ngày nghĩa vụ của kỳ đó đến hạn (khoản 2 Điều 34 Luật Thi hành án dân sự 2025).

Cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn có bắt buộc không?
Có. Nhiều người vẫn nghĩ cấp dưỡng là “tùy tâm”, nhất là khi người trực tiếp nuôi con có điều kiện kinh tế tốt. Cách hiểu này sai. Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định rõ: cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Điều 110 của luật này nêu cụ thể hơn — cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.
Nghĩa vụ này gắn với quan hệ cha mẹ – con, không gắn với quan hệ vợ chồng. Vì vậy, ly hôn xong, cha mẹ tái hôn, con đổi họ hay cha mẹ không còn liên lạc với nhau đều không làm chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng.
Ai có quyền yêu cầu? Theo Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, không chỉ người trực tiếp nuôi con mới được yêu cầu. Người thân thích; cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ cũng có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.
Trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con bị xử lý thế nào?
Pháp luật xử lý hành vi này theo ba tầng, từ nhẹ đến nặng. Trên thực tế, ba tầng này thường đi theo thứ tự: trước hết là cưỡng chế thi hành án, sau đó là xử phạt hành chính, cuối cùng mới đến trách nhiệm hình sự.
| Tầng xử lý | Nội dung | Mức chế tài | Căn cứ |
|---|---|---|---|
| Thi hành án dân sự | Chấp hành viên xác minh điều kiện thi hành án và trừ vào thu nhập (tiền lương, tiền công, lương hưu, trợ cấp mất sức lao động và thu nhập hợp pháp khác) của người phải thi hành án | Trừ tối đa 30% tổng số tiền nhận hằng tháng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác | Điều 76 Luật Thi hành án dân sự 2025 (số 106/2025/QH15) |
| Xử phạt hành chính (hôn nhân, gia đình) | Từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, chăm sóc con sau khi ly hôn | Phạt tiền 5.000.000 – 10.000.000 đồng, kèm biện pháp khắc phục hậu quả buộc thực hiện nghĩa vụ đóng góp, nuôi dưỡng | Điều 57 Nghị định 144/2021/NĐ-CP |
| Xử phạt hành chính (thi hành án) | Không thực hiện công việc phải làm theo bản án, quyết định; trì hoãn thực hiện nghĩa vụ thi hành án trong khi có điều kiện thi hành án | Phạt tiền 3.000.000 – 5.000.000 đồng | Khoản 3 Điều 64 Nghị định 82/2020/NĐ-CP |
| Hình sự – trốn tránh cấp dưỡng | Có khả năng thực tế mà từ chối, trốn tránh, làm người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm | Cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc tù từ 03 tháng đến 02 năm | Điều 186 Bộ luật Hình sự 2015 |
| Hình sự – không chấp hành án | Có điều kiện mà không chấp hành bản án, quyết định đã có hiệu lực, mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm | Tù từ 03 tháng đến 02 năm; khung tăng nặng 02 – 05 năm; có thể bị phạt tiền bổ sung 5 – 50 triệu đồng | Điều 380 Bộ luật Hình sự 2015 |
Hai điều kiện cốt lõi của tội tại Điều 186: người bị xử lý phải (1) có khả năng thực tế để cấp dưỡng và (2) rơi vào một trong hai tình huống — làm người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe, hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. Người thật sự mất việc, ốm đau kéo dài, không còn thu nhập thì không thuộc diện “có khả năng thực tế”. Đây cũng là lý do bước xử phạt hành chính rất quan trọng: nó tạo ra tiền đề pháp lý cho việc xử lý hình sự về sau.
Điều 186 và Điều 380 không chồng lấn. Điều 186 quy định rõ chỉ áp dụng nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 380. Khi người phải cấp dưỡng đã bị cưỡng chế thi hành án hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi không chấp hành án mà vẫn cố tình không chấp hành, cơ quan tố tụng thường xử lý theo tội không chấp hành án tại Điều 380 — khung hình phạt nặng hơn.
Các bước đòi tiền cấp dưỡng khi người kia cố tình không trả
Bản án đã tuyên nhưng tiền không về là tình huống rất phổ biến. Trình tự dưới đây đi từ biện pháp nhẹ nhất đến mạnh nhất, đồng thời tạo ra chứng cứ cho các bước sau:
- Gửi văn bản nhắc nghĩa vụ qua tin nhắn, email hoặc thư bảo đảm, nêu rõ số tiền, số kỳ đã chậm và yêu cầu thời hạn thanh toán. Lưu lại toàn bộ — đây là chứng cứ cho thấy người kia biết rõ nghĩa vụ mà vẫn không thực hiện.
- Nộp đơn yêu cầu thi hành án tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền, kèm bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và giấy tờ tùy thân.
- Cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án: nơi làm việc, nguồn thu nhập, tài khoản ngân hàng, tài sản của người phải thi hành án. Thông tin càng cụ thể, Chấp hành viên xác minh càng nhanh.
- Đề nghị áp dụng biện pháp trừ vào thu nhập. Chấp hành viên ra quyết định trừ tối đa 30% tổng số tiền người đó nhận hằng tháng và phải để lại phần bảo đảm điều kiện sinh hoạt tối thiểu cho người phải thi hành án và người mà họ đang nuôi dưỡng.
- Đề nghị xử phạt vi phạm hành chính nếu người đó vẫn cố tình trốn tránh — theo Điều 57 Nghị định 144/2021/NĐ-CP hoặc khoản 3 Điều 64 Nghị định 82/2020/NĐ-CP. Quyết định xử phạt là tiền đề bắt buộc cho bước cuối.
- Tố giác hành vi phạm tội tại cơ quan điều tra nếu đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm, hoặc việc không cấp dưỡng khiến con lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe (Điều 186 hoặc Điều 380 Bộ luật Hình sự 2015).
Đừng để mất thời hiệu. Khoản 2 Điều 34 Luật Thi hành án dân sự 2025 quy định thời hiệu yêu cầu thi hành án là 05 năm. Với bản án thi hành theo định kỳ như cấp dưỡng hằng tháng, thời hạn 05 năm được tính riêng cho từng kỳ kể từ ngày nghĩa vụ của kỳ đó đến hạn. Nghĩa là mỗi tháng chậm là một “đồng hồ” riêng bắt đầu chạy — để càng lâu càng mất nhiều kỳ. Trường hợp không thể yêu cầu đúng hạn vì tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng thì khoảng thời gian đó không tính vào thời hiệu.
Mức cấp dưỡng nuôi con bao nhiêu là đúng luật?
Đây là điểm bị lan truyền sai nhiều nhất. Pháp luật Việt Nam không ấn định mức cấp dưỡng bằng tỷ lệ phần trăm thu nhập, cũng không tính theo lương tối thiểu vùng hay lương cơ sở. Các con số kiểu “bắt buộc 30% thu nhập” hay “tối thiểu 50% lương vùng” đang lan truyền trên mạng đều không có căn cứ pháp lý.
| Vấn đề | Quy định | Căn cứ |
|---|---|---|
| Mức cấp dưỡng | Do người có nghĩa vụ và người được cấp dưỡng (hoặc người giám hộ) thỏa thuận, căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết | Khoản 1 Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 |
| Thay đổi mức cấp dưỡng | Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể được thay đổi theo thỏa thuận; không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết | Khoản 2 Điều 116 |
| Phương thức cấp dưỡng | Định kỳ hằng tháng, hằng quý, nửa năm, hằng năm hoặc một lần, theo thỏa thuận của các bên | Điều 117 |
| Tạm ngừng cấp dưỡng | Các bên có thể thỏa thuận tạm ngừng cấp dưỡng khi người có nghĩa vụ lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ; không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết | Điều 117 |
Thực tiễn xét xử: Tòa án thường căn cứ vào chi phí thực tế nuôi con — tiền ăn, học phí, y tế, sinh hoạt — đối chiếu với thu nhập chứng minh được của người có nghĩa vụ. Vì vậy, bên yêu cầu nên chuẩn bị hóa đơn học phí, biên lai khám chữa bệnh, bảng kê chi phí sinh hoạt hằng tháng của con, thay vì chỉ đưa ra một con số.
Khi nào chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con?
Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 liệt kê các trường hợp chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng. Với quan hệ cha mẹ – con sau ly hôn, những trường hợp thường gặp gồm:
| Trường hợp chấm dứt | Giải thích |
|---|---|
| Con đã thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình | Đây là mốc phổ biến nhất. Con đủ 18 tuổi nhưng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì nghĩa vụ cấp dưỡng vẫn tiếp tục |
| Con được nhận làm con nuôi | Quan hệ nuôi dưỡng chuyển sang cha mẹ nuôi |
| Người cấp dưỡng đã trực tiếp nuôi dưỡng con | Khi người có nghĩa vụ cấp dưỡng trở thành người trực tiếp nuôi con |
| Người cấp dưỡng hoặc người được cấp dưỡng chết | Nghĩa vụ cấp dưỡng gắn với nhân thân nên không chuyển giao cho người khác |
Ba lý do không làm chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng: (1) người trực tiếp nuôi con tái hôn; (2) con đã được đổi sang họ của mẹ; (3) người cấp dưỡng bị cản trở thăm nom. Nếu bị cản trở thăm nom, người cha hoặc mẹ nên yêu cầu Tòa án giải quyết theo Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, chứ không được tự ý ngừng cấp dưỡng để “gây sức ép”.
Bài viết liên quan
- Mức cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn tính thế nào?
- Ai được nuôi con dưới 3 tuổi khi ly hôn?
- Thủ tục thay đổi họ tên cho con sau ly hôn
- Thủ tục ly hôn online: nộp đơn, án phí, thẩm quyền
Câu hỏi thường gặp
Trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con bị phạt bao nhiêu tiền?
Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, chăm sóc con sau khi ly hôn, theo Điều 57 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, kèm biện pháp khắc phục hậu quả là buộc thực hiện nghĩa vụ đóng góp, nuôi dưỡng. Riêng hành vi không thực hiện công việc phải làm theo bản án hoặc trì hoãn thi hành án khi có điều kiện thi hành thì bị phạt 3.000.000 đến 5.000.000 đồng theo khoản 3 Điều 64 Nghị định 82/2020/NĐ-CP.
Không cấp dưỡng nuôi con có bị đi tù không?
Có thể. Điều 186 Bộ luật Hình sự 2015 quy định tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng với mức phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc tù từ 03 tháng đến 02 năm. Điều kiện áp dụng là người có nghĩa vụ có khả năng thực tế mà vẫn từ chối, trốn tránh, đồng thời làm người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
Chồng cũ không chịu cấp dưỡng thì làm gì?
Hãy nộp đơn yêu cầu thi hành án tại cơ quan thi hành án dân sự kèm bản án, quyết định của Tòa án; cung cấp thông tin về nơi làm việc, thu nhập, tài khoản của người phải thi hành án; đề nghị Chấp hành viên áp dụng biện pháp trừ vào thu nhập. Nếu vẫn cố tình trốn tránh, đề nghị xử phạt vi phạm hành chính rồi tố giác hành vi phạm tội khi đã đủ căn cứ.
Cơ quan thi hành án được trừ bao nhiêu phần trăm lương để thi hành án cấp dưỡng?
Mức cao nhất được trừ vào tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động là 30% tổng số tiền được nhận hằng tháng, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác, theo Điều 76 Luật Thi hành án dân sự 2025 (số 106/2025/QH15, hiệu lực từ 01/7/2026). Khi khấu trừ, Chấp hành viên phải để lại số tiền bảo đảm điều kiện sinh hoạt tối thiểu cho người phải thi hành án và người được họ nuôi dưỡng.
Thời hiệu yêu cầu thi hành án tiền cấp dưỡng là bao lâu?
Là 05 năm theo khoản 2 Điều 34 Luật Thi hành án dân sự 2025. Với bản án, quyết định thi hành theo định kỳ như cấp dưỡng hằng tháng, thời hạn 05 năm được tính riêng cho từng kỳ, kể từ ngày nghĩa vụ của kỳ đó đến hạn. Nếu không thể yêu cầu đúng hạn do tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng thì khoảng thời gian đó không tính vào thời hiệu.
Mức cấp dưỡng nuôi con có bắt buộc là 30% thu nhập không?
Không. Pháp luật không ấn định mức cấp dưỡng theo tỷ lệ phần trăm thu nhập, cũng không tính theo lương tối thiểu vùng hay lương cơ sở. Theo khoản 1 Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Người trực tiếp nuôi con tái hôn thì người kia có phải cấp dưỡng nữa không?
Vẫn phải. Nghĩa vụ cấp dưỡng gắn với quan hệ cha mẹ và con, không phụ thuộc tình trạng hôn nhân của người đang trực tiếp nuôi con. Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 không liệt kê việc người trực tiếp nuôi con tái hôn là căn cứ chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng.
Bị cản trở thăm con thì có được ngừng cấp dưỡng không?
Không. Quyền thăm nom và nghĩa vụ cấp dưỡng là hai quan hệ độc lập. Nếu bị cản trở thăm nom trái pháp luật, người cha hoặc mẹ nên yêu cầu Tòa án giải quyết theo Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, chứ tự ý ngừng cấp dưỡng sẽ khiến mình trở thành bên vi phạm và có thể bị xử phạt hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Cần luật sư hỗ trợ đòi tiền cấp dưỡng nuôi con?
Luật sư của Công ty Luật TNHH Đỗ Gia Việt hỗ trợ soạn đơn yêu cầu thi hành án, làm việc với Chấp hành viên, đề nghị xử phạt vi phạm hành chính và chuẩn bị hồ sơ tố giác khi có đủ căn cứ. Gọi hotline 094.445.0105 hoặc gửi yêu cầu qua trang liên hệ.
Lưu ý: Nội dung mang tính tham khảo chung, cập nhật theo quy định tại thời điểm đăng tải; không thay thế tư vấn cho một vụ việc cụ thể.