Khi ly hôn, phụ nữ và trẻ em được pháp luật bảo vệ bằng những quy định rất cụ thể chứ không chỉ bằng nguyên tắc chung: chồng không được yêu cầu ly hôn khi vợ đang có thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi (khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014); lao động nội trợ được coi như lao động có thu nhập khi chia tài sản (điểm b khoản 2 Điều 59); con dưới 36 tháng tuổi giao cho mẹ trực tiếp nuôi (khoản 3 Điều 81); và từ 01/7/2024, tiền cấp dưỡng cho con không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng cho mỗi con (khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP).
- Quyền yêu cầu ly hôn: người vợ luôn có quyền yêu cầu ly hôn; người chồng bị hạn chế khi vợ đang có thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi — Điều 2 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP nói rõ hạn chế này áp dụng không phụ thuộc con đó là con đẻ hay con nuôi, có phải con của người chồng hay không.
- Chia tài sản: chia đôi nhưng có tính đến hoàn cảnh gia đình, công sức đóng góp, lợi ích nghề nghiệp và lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ vợ chồng (khoản 2 Điều 59); “lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập” (điểm b khoản 2 Điều 59).
- Nuôi con: con dưới 36 tháng tuổi giao cho mẹ, trừ ba trường hợp mẹ không đủ điều kiện tại khoản 3 Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP; con từ đủ 07 tuổi phải được hỏi nguyện vọng và không lấy ý kiến trước mặt cha, mẹ.
- Cấp dưỡng cho con: mức sàn theo khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP là một nửa tháng lương tối thiểu vùng nơi người cấp dưỡng cư trú — tương ứng 1.850.000 – 2.655.000 đồng/tháng/con theo mức lương tối thiểu vùng từ 01/01/2026 (Nghị định 293/2025/NĐ-CP).
- Cấp dưỡng giữa vợ và chồng: bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu chính đáng được bên kia cấp dưỡng theo khả năng (Điều 115).
- Án phí: người yêu cầu cấp dưỡng được miễn tạm ứng án phí, án phí (Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14); từ 01/7/2025 vụ, việc ly hôn do Tòa án nhân dân khu vực giải quyết sơ thẩm (Luật số 85/2025/QH15).
Ly hôn là một ngã rẽ không ai mong muốn trong đời sống hôn nhân, mang đến nhiều hệ lụy về mặt tâm lý và xáo trộn lớn trong cuộc sống, đặc biệt là đối với người vợ và những đứa con. Trong các vụ án ly hôn, phụ nữ và trẻ nhỏ thường được xem là những đối tượng yếu thế, dễ chịu nhiều thiệt thòi nhất về cả tinh thần lẫn vật chất. Chính vì vậy, pháp luật luôn có những quy định khắt khe nhằm bảo vệ tối đa các đối tượng này. Đừng bỏ qua quyền lợi phụ nữ và trẻ em khi ly hôn nếu bạn đang chuẩn bị hồ sơ hoặc cần tư vấn pháp lý chính xác, rõ ràng và hiệu quả. Bài viết dưới đây sẽ tổng hợp chi tiết nhất những quyền lợi chính đáng mà bạn và con cái được hưởng theo quy định của pháp luật hiện hành.
Nắm rõ quyền lợi phụ nữ và trẻ em khi ly hôn
Khi bước vào giai đoạn khủng hoảng hôn nhân, nhiều chị em phụ nữ vì quá mệt mỏi, bế tắc hoặc thiếu hiểu biết về pháp luật mà chấp nhận “ra đi tay trắng” hoặc đánh mất quyền nuôi dưỡng con cái. Đây là một sự thiệt thòi vô cùng to lớn.
Việc tìm hiểu và nắm vững quyền lợi phụ nữ và trẻ em khi ly hôn mang lại những giá trị cốt lõi sau:
- Bảo vệ sự công bằng: Đảm bảo những công sức đóng góp của người phụ nữ cho gia đình (ngay cả khi chỉ ở nhà nội trợ) được pháp luật công nhận và đền đáp xứng đáng.
- Bảo đảm tương lai cho con trẻ: Đảm bảo trẻ em được sống trong môi trường tốt nhất, được cung cấp đầy đủ điều kiện về tài chính, y tế và giáo dục thông qua các quy định về quyền nuôi dưỡng và nghĩa vụ cấp dưỡng.
- Chủ động trên bàn đàm phán: Khi hiểu rõ luật, bạn sẽ có lợi thế hơn trong việc thỏa thuận phân chia tài sản, quyền nuôi con với đối phương, hoặc có đầy đủ cơ sở để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.

Chi tiết quyền lợi của phụ nữ khi giải quyết ly hôn
Theo quy định của luật hôn nhân và gia đình năm 2014, quyền lợi của người vợ được bảo vệ một cách toàn diện qua nhiều khía cạnh khác nhau, từ quyền nhân thân đến quyền tài sản.
Quyền đặc quyền về việc yêu cầu ly hôn
Pháp luật có quy định rất nhân văn nhằm bảo vệ sức khỏe và tâm lý của phụ nữ trong giai đoạn nhạy cảm nhất. Cụ thể, người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi — khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Điều 2 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP làm rõ: hạn chế này áp dụng không phụ thuộc vào việc đứa trẻ là con đẻ hay con nuôi, là con chung hay không phải con của người chồng, và áp dụng cả với trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
Tuy nhiên, quy định này chỉ hạn chế quyền của người chồng. Về phía người vợ, nếu cảm thấy cuộc sống hôn nhân quá ngột ngạt, bị bạo hành hoặc có căn cứ cho thấy mục đích hôn nhân không đạt được, người vợ hoàn toàn có quyền đơn phương yêu cầu ly hôn dù đang mang thai hay nuôi con nhỏ dưới 12 tháng. Đây là một quyền lợi phụ nữ và trẻ em khi ly hôn mang tính chất ưu tiên tuyệt đối.
Quyền lợi trong việc phân chia tài sản chung
Một trong những vấn đề tranh chấp gay gắt nhất khi ly hôn là tài sản. Nguyên tắc chung của pháp luật là tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia đôi. Tuy nhiên, Tòa án sẽ xem xét đến các yếu tố để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, bao gồm:
- Công sức đóng góp: Nhiều người lầm tưởng rằng chỉ ai đi làm làm ra tiền mới có quyền chia tài sản lớn. Điểm b khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 ghi thẳng: “Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập”. Nội trợ, chăm con vì vậy là công sức đóng góp vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung.
- Bảo vệ chỗ ở: Tòa án sẽ ưu tiên xem xét chia tài sản (nhà ở, đất đai) sao cho người vợ và con cái có chỗ ở ổn định, đặc biệt là khi người vợ được giao quyền trực tiếp nuôi con.
- Lỗi vi phạm chế độ hôn nhân: Nếu người chồng có hành vi bạo lực gia đình, ngoại tình, phá tán tài sản… dẫn đến ly hôn, Tòa án có thể xem xét chia phần tài sản ít hơn cho người chồng để đảm bảo sự công bằng cho người vợ.
Quyền yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ và chồng
Trong trường hợp sau khi ly hôn, người vợ lâm vào tình trạng khó khăn, túng thiếu, không có khả năng tạo ra thu nhập (do ốm đau, bệnh tật, hoặc lý do chính đáng khác), người vợ có quyền yêu cầu người chồng cấp dưỡng cho mình theo Điều 115 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 — điều kiện là bên yêu cầu khó khăn, túng thiếu, có yêu cầu cấp dưỡng và có lý do chính đáng. Mức cấp dưỡng sẽ do hai bên thỏa thuận hoặc do Tòa án quyết định dựa trên khả năng tài chính của người chồng và nhu cầu thiết yếu của người vợ.
Quyền lợi của trẻ em khi cha mẹ ly hôn
Con cái là nạn nhân chịu nhiều tổn thương nhất khi cha mẹ “đường ai nấy đi”. Do đó, bảo đảm quyền lợi phụ nữ và trẻ em khi ly hôn chính là ưu tiên hàng đầu của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Quyền được sống cùng mẹ (đối với trẻ dưới 36 tháng tuổi)
Để đảm bảo sự phát triển tốt nhất về thể chất và tinh thần cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, pháp luật quy định: Con dưới 36 tháng tuổi sẽ được giao trực tiếp cho mẹ nuôi dưỡng, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con (khoản 3 Điều 81). Ba trường hợp “mẹ không đủ điều kiện” đã được liệt kê cụ thể tại khoản 3 Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP: mắc bệnh hiểm nghèo hoặc bệnh nặng khác; thu nhập dưới một nửa lương tối thiểu vùng và không có tài sản nào khác; không có điều kiện về thời gian tối thiểu để chăm con. Ngay cả khi rơi vào ba trường hợp này, nếu điều kiện của người cha không tốt hơn thì Tòa án vẫn giao con cho mẹ.
Quyền được tôn trọng ý kiến (đối với trẻ từ đủ 7 tuổi trở lên)
Trẻ em không phải là “tài sản” để cha mẹ tranh giành. Khi quyết định người trực tiếp nuôi dưỡng, nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên, Tòa án bắt buộc phải xem xét nguyện vọng của con xem con muốn sống với ai. Mặc dù ý kiến của con không phải là yếu tố quyết định duy nhất (Tòa án vẫn phải đánh giá xem ai có đủ điều kiện kinh tế, đạo đức, thời gian chăm sóc con tốt hơn), nhưng đây là một quyền lợi quan trọng thể hiện sự tôn trọng đối với trẻ em.
Quyền được nhận cấp dưỡng
Trẻ em có quyền được đảm bảo đầy đủ các điều kiện sinh hoạt, học tập và y tế. Người cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ bắt buộc phải cấp dưỡng nuôi con. Mức cấp dưỡng không được ấn định bằng một con số cố định trong luật mà phụ thuộc vào:
- Thu nhập, khả năng tài chính thực tế của người cấp dưỡng.
- Nhu cầu thiết yếu, chi phí học tập, sinh hoạt thực tế của người con. Luật không ấn định tỷ lệ phần trăm thu nhập. Từ 01/7/2024, khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP đặt mức sàn: tiền cấp dưỡng do Tòa án quyết định không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng cư trú, cho mỗi tháng và mỗi người con.
Quyền không bị chia cắt tình cảm
Dù cha mẹ ly hôn, trẻ em vẫn có quyền được nhận sự yêu thương, chăm sóc từ cả hai phía. Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được phép cản trở — khoản 3 Điều 82 quy định không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con thực hiện quyền thăm nom, còn khoản 2 Điều 83 cấm người trực tiếp nuôi con cản trở người kia thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Tòa án chỉ hạn chế quyền thăm nom khi người đó lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.
Những điều luật nào bảo vệ quyền lợi phụ nữ và trẻ em khi ly hôn?
Các quyền nêu trên không nằm rải rác ở “tinh thần của luật” mà có địa chỉ điều khoản rõ ràng. Bảng dưới đây gom đủ căn cứ để bạn trích dẫn khi làm việc với Tòa án hoặc khi thương lượng với bên kia.
| Quyền lợi | Căn cứ pháp lý | Nội dung cốt lõi |
|---|---|---|
| Vợ luôn được quyền yêu cầu ly hôn | Khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Điều 2 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP | Chồng không được yêu cầu ly hôn khi vợ đang có thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi — kể cả khi đó không phải con đẻ của chồng. Người vợ không bị hạn chế. |
| Chia tài sản có tính công sức nội trợ | Điểm b khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 | “Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập”. Ở nhà chăm con vẫn là đóng góp vào khối tài sản chung. |
| Xem xét lỗi khi chia tài sản | Điểm d khoản 2 Điều 59 | Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ vợ chồng (bạo lực gia đình, không chung thủy, phá tán tài sản) là một yếu tố khi chia. |
| Bảo vệ chỗ ở của mẹ và con | Khoản 5 Điều 59; Điều 63 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 | Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên; bên có khó khăn về chỗ ở được quyền lưu cư trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt, trừ khi có thỏa thuận khác. |
| Con dưới 36 tháng tuổi ở với mẹ | Khoản 3 Điều 81; khoản 3 Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP | Giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ ba trường hợp mẹ không đủ điều kiện — và ngay cả khi đó, nếu điều kiện của cha không tốt hơn thì con vẫn ở với mẹ. |
| Con từ đủ 07 tuổi được hỏi ý kiến | Khoản 2 Điều 81; Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP | Việc lấy ý kiến phải thân thiện, không thực hiện trước mặt cha, mẹ, không ép buộc. |
| Con được cấp dưỡng | Điều 82, Điều 110, Điều 116; khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP | Người không trực tiếp nuôi con phải cấp dưỡng; mức do các bên thỏa thuận, nếu Tòa án quyết định thì không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng cho mỗi con. |
| Con được duy trì quan hệ với cả cha và mẹ | Khoản 3 Điều 82; khoản 2 Điều 83 | Không ai được cản trở việc thăm nom; người trực tiếp nuôi con không được cản trở người kia thăm nom, chăm sóc, giáo dục con. |
| Vợ (hoặc chồng) khó khăn được cấp dưỡng | Điều 115 | Khi ly hôn, bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng. |
| Miễn án phí khi yêu cầu cấp dưỡng | Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 | Người yêu cầu cấp dưỡng; trẻ em; người thuộc hộ nghèo, cận nghèo; người cao tuổi; người khuyết tật… được miễn tạm ứng án phí, án phí. |
Lưu ý về nơi nộp đơn: từ ngày 01/7/2025, vụ án và việc dân sự về ly hôn được Tòa án nhân dân khu vực giải quyết theo thủ tục sơ thẩm (Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự), kể cả vụ việc có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài. Cách gọi “Tòa án nhân dân cấp huyện” trong các bài viết cũ đã không còn đúng.
Mức cấp dưỡng nuôi con tối thiểu năm 2026 là bao nhiêu?
Đây là con số bị hiểu sai nhiều nhất. Luật Hôn nhân và gia đình 2014 không ấn định tỷ lệ phần trăm thu nhập. Điều 116 chỉ nêu: mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ và người được cấp dưỡng thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Điểm mới quan trọng: khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP (hiệu lực từ 01/7/2024) đặt ra mức sàn khi Tòa án quyết định — tiền cấp dưỡng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú, tính cho mỗi tháng và cho mỗi người con.
| Vùng (nơi người cấp dưỡng cư trú) | Lương tối thiểu tháng từ 01/01/2026 | Mức cấp dưỡng tối thiểu/tháng/con |
|---|---|---|
| Vùng I | 5.310.000 đồng | 2.655.000 đồng |
| Vùng II | 4.730.000 đồng | 2.365.000 đồng |
| Vùng III | 4.140.000 đồng | 2.070.000 đồng |
| Vùng IV | 3.700.000 đồng | 1.850.000 đồng |
Mức lương tối thiểu vùng theo Nghị định 293/2025/NĐ-CP, áp dụng từ 01/01/2026.
Cách dùng con số này: đây là mức sàn áp dụng cho phần Tòa án quyết định, không phải mức trần. Nếu chi phí học tập, chữa bệnh thực tế của con cao hơn và người cấp dưỡng có khả năng, bạn hoàn toàn có thể yêu cầu mức cao hơn — kèm hóa đơn học phí, sổ khám bệnh, bảng kê chi phí sinh hoạt. Khi thu nhập hoặc nhu cầu thay đổi, mức cấp dưỡng có thể được thay đổi theo Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
Làm gì khi bên kia trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng?
Bản án, quyết định của Tòa án về cấp dưỡng được thi hành theo pháp luật thi hành án dân sự. Người phải thi hành án có thể bị trừ vào thu nhập (tiền lương, tiền công, lương hưu, trợ cấp) tối đa 30% thu nhập hằng tháng theo Điều 76 Luật Thi hành án dân sự 2025 (Luật số 106/2025/QH15, hiệu lực 01/7/2026) — biện pháp này áp dụng đúng cho khoản thi hành theo định kỳ như cấp dưỡng.
- Gửi đơn yêu cầu thi hành án kèm bản án, quyết định đã có hiệu lực đến cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Đề nghị cơ quan thi hành án xác minh điều kiện thi hành án (nơi làm việc, tài khoản, tài sản) và áp dụng biện pháp trừ vào thu nhập.
- Nếu bên kia vẫn cố tình không thực hiện: đề nghị xử phạt hành chính 5.000.000 – 10.000.000 đồng theo Điều 57 Nghị định 144/2021/NĐ-CP (từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, chăm sóc con sau ly hôn) kèm buộc thực hiện nghĩa vụ.
- Trường hợp nghiêm trọng: đề nghị xem xét trách nhiệm hình sự theo Điều 186 (tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng) hoặc Điều 380 (tội không chấp hành án) Bộ luật Hình sự 2015.
Mốc thời hiệu cần nhớ: khoản 2 Điều 34 Luật Thi hành án dân sự 2025 quy định thời hiệu yêu cầu thi hành án là 05 năm; với khoản phải thi hành theo định kỳ như cấp dưỡng, thời hiệu được tính riêng cho từng kỳ kể từ ngày kỳ đó đến hạn. Đừng để các kỳ cũ hết thời hiệu rồi mới đi yêu cầu.
Giải pháp bảo vệ tối đa quyền lợi phụ nữ và trẻ em khi ly hôn
Để những quy định của pháp luật thực sự đi vào thực tiễn và bảo vệ được quyền lợi của bạn, bạn cần:
- Thu thập chứng cứ đầy đủ: Hãy chuẩn bị kỹ lưỡng các giấy tờ chứng minh tài sản chung, tài liệu chứng minh thu nhập của bản thân và của đối phương, cũng như các bằng chứng về lỗi của đối phương (nếu có) để đệ trình lên Tòa án.
- Giữ bình tĩnh và ưu tiên thỏa thuận: Ly hôn thuận tình và tự thỏa thuận được các vấn đề tài sản, con cái luôn là phương án tốt nhất để giảm thiểu tổn thương. Hãy cố gắng duy trì thái độ hợp tác vì lợi ích chung của con cái.
- Tìm kiếm sự trợ giúp pháp lý: Việc am hiểu sâu sắc các quy định của pháp luật không phải là điều dễ dàng đối với hầu hết mọi người. Một sai lầm nhỏ trong hồ sơ hoặc thiếu sót trong việc cung cấp chứng cứ cũng có thể làm bạn mất đi quyền lợi chính đáng.

Việc chấm dứt một cuộc hôn nhân chưa bao giờ là điều dễ dàng, nhưng đó cũng có thể là khởi đầu mới cho một cuộc sống bình yên hơn. Đừng để sự thiếu hiểu biết về pháp luật làm ảnh hưởng đến tương lai của bạn và các con. Hãy trang bị cho mình kiến thức và tìm đến sự hỗ trợ của các chuyên gia để đảm bảo mọi quyền lợi hợp pháp đều được thực thi một cách công bằng nhất.
Bài viết liên quan
- Ai được nuôi con dưới 3 tuổi khi ly hôn? Quy định 2026
- Án phí ly hôn đơn phương và thuận tình mới nhất
- Tranh chấp tài sản khi ly hôn: nguyên tắc chia và cách bảo vệ quyền lợi
- Trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con bị xử lý thế nào?
- Thủ tục ly hôn online 2026: nộp đơn, án phí, thẩm quyền
Câu hỏi thường gặp
Quyền lợi phụ nữ và trẻ em khi ly hôn gồm những gì?
Gồm các nhóm quyền chính: quyền yêu cầu ly hôn không bị hạn chế (khoản 3 Điều 51 chỉ hạn chế người chồng); quyền được chia đôi tài sản chung có tính công sức nội trợ và lỗi của mỗi bên (khoản 2 Điều 59); quyền lưu cư 06 tháng nếu khó khăn về chỗ ở (Điều 63); quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi (khoản 3 Điều 81); quyền được cấp dưỡng cho con và cho bản thân khi khó khăn (Điều 82, Điều 115); quyền thăm nom không bị cản trở (Điều 82, Điều 83); và quyền được miễn án phí khi yêu cầu cấp dưỡng (Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14).
Chồng có được đơn phương ly hôn khi vợ đang mang thai không?
Không. Khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định chồng không có quyền yêu cầu ly hôn khi vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Điều 2 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP làm rõ hạn chế này áp dụng kể cả khi đứa trẻ không phải con đẻ của người chồng và cả trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Người vợ vẫn có quyền yêu cầu ly hôn trong thời gian này.
Vợ ở nhà nội trợ khi ly hôn có được chia tài sản không?
Có. Điểm b khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định “lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập”. Người vợ ở nhà chăm con, làm nội trợ vẫn được tính là có công sức đóng góp vào khối tài sản chung, nên tài sản chung vẫn chia đôi và có tính đến hoàn cảnh gia đình, công sức đóng góp, lợi ích nghề nghiệp của mỗi bên.
Mức cấp dưỡng nuôi con tối thiểu năm 2026 là bao nhiêu?
Theo khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP, mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng cư trú, cho mỗi tháng và mỗi người con. Với mức lương tối thiểu vùng áp dụng từ 01/01/2026 theo Nghị định 293/2025/NĐ-CP, mức tối thiểu tương ứng là 2.655.000 đồng (vùng I), 2.365.000 đồng (vùng II), 2.070.000 đồng (vùng III) và 1.850.000 đồng (vùng IV) mỗi tháng cho mỗi con.
Con mấy tuổi thì được hỏi ý kiến muốn ở với ai khi cha mẹ ly hôn?
Con từ đủ 07 tuổi trở lên bắt buộc phải được xem xét nguyện vọng (khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014). Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP yêu cầu việc lấy ý kiến phải thân thiện, phù hợp tâm lý và độ tuổi của con, không thực hiện trước mặt cha, mẹ và không được ép buộc, gây áp lực. Nguyện vọng của con là một yếu tố quan trọng nhưng không phải yếu tố quyết định duy nhất.
Sau ly hôn vợ có được yêu cầu chồng cấp dưỡng cho mình không?
Có, nếu đáp ứng điều kiện tại Điều 115 Luật Hôn nhân và gia đình 2014: khi ly hôn, bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình. Đây là nghĩa vụ giữa vợ và chồng, tách biệt với nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
Ly hôn xong không có chỗ ở thì phải làm sao?
Điều 63 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định quyền lưu cư: nhà ở thuộc sở hữu riêng của một bên đã đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn vẫn thuộc sở hữu riêng của người đó, nhưng bên kia nếu có khó khăn về chỗ ở được quyền lưu cư trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Ngoài ra, khoản 5 Điều 59 buộc Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên khi chia tài sản.
Người yêu cầu cấp dưỡng có phải nộp án phí không?
Không. Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định người yêu cầu cấp dưỡng, xin xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí. Ngoài ra còn có trẻ em, cá nhân thuộc hộ nghèo, cận nghèo, người cao tuổi, người khuyết tật, người có công với cách mạng. Người gặp sự kiện bất khả kháng không đủ tài sản nộp án phí, có xác nhận của UBND cấp xã nơi cư trú, được giảm 50% theo Điều 13.
Cần luật sư bảo vệ quyền lợi của bạn và con khi ly hôn?
Luật sư hôn nhân gia đình của Công ty Luật TNHH Đỗ Gia Việt hỗ trợ bạn định giá tài sản chung, xây dựng hồ sơ chứng minh công sức đóng góp, giành quyền nuôi con và yêu cầu mức cấp dưỡng đúng luật. Gọi hotline 094.445.0105 hoặc gửi yêu cầu qua trang liên hệ.
Lưu ý: Nội dung mang tính tham khảo chung, cập nhật theo quy định tại thời điểm đăng tải; không thay thế tư vấn cho một vụ việc cụ thể.