Góc tư vấn

Thời hạn điều tra và gia hạn điều tra vụ án hình sự tối đa bao lâu? (Điều 172 BLTTHS)

Tác giả: Hồng Xuân Kiểm duyệt: Luật sư Đỗ Ngọc Anh 18/05/2024 26 phút đọc Cập nhật 09/10/2026
Thời hạn điều tra và gia hạn điều tra vụ án hình sự tối đa bao lâu? (Điều 172 BLTTHS)
Trả lời nhanh

Theo Điều 172 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, thời hạn điều tra ban đầu là 02 tháng với tội ít nghiêm trọng, 03 tháng với tội nghiêm trọng, 04 tháng với tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, tính từ khi khởi tố vụ án. Khi gia hạn, tổng thời hạn điều tra tối đa (kể cả gia hạn) là 04 tháng với tội ít nghiêm trọng (gia hạn 1 lần không quá 02 tháng), 08 tháng với tội nghiêm trọng (2 lần: 03 tháng + 02 tháng), 12 tháng với tội rất nghiêm trọng (2 lần, mỗi lần không quá 04 tháng) và 16 tháng với tội đặc biệt nghiêm trọng (3 lần, mỗi lần không quá 04 tháng). Với tội đặc biệt nghiêm trọng đã hết thời hạn gia hạn mà vụ án rất phức tạp, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng (tối đa 20 tháng); tội xâm phạm an ninh quốc gia được gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng.

  • Thủ tục gia hạn: Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn chậm nhất 10 ngày trước khi hết thời hạn điều tra (khoản 2 Điều 172).
  • Thẩm quyền gia hạn từ 01/7/2025 (Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi): Viện kiểm sát nhân dân khu vực gia hạn với tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng và lần thứ nhất của tội rất nghiêm trọng; Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh gia hạn lần thứ hai tội rất nghiêm trọng và lần 1, lần 2 tội đặc biệt nghiêm trọng; Viện kiểm sát nhân dân tối cao gia hạn lần thứ ba tội đặc biệt nghiêm trọng.
  • Tạm giam để điều tra (Điều 173) có thời hạn riêng, ngắn hơn thời hạn điều tra: gia hạn tạm giam 1 lần không quá 01 tháng (ít nghiêm trọng), 02 tháng (nghiêm trọng), 03 tháng (rất nghiêm trọng); 2 lần mỗi lần không quá 04 tháng (đặc biệt nghiêm trọng).
  • Hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can phạm tội thì phải đình chỉ điều tra (Điều 230); chưa xác định được bị can hoặc không biết bị can ở đâu thì tạm đình chỉ và truy nã (Điều 229, 231).
  • Điều tra bổ sung (Điều 174): Viện kiểm sát trả hồ sơ thì không quá 02 tháng, Tòa án trả hồ sơ thì không quá 01 tháng, mỗi nơi trả tối đa 2 lần.

Người thân bị khởi tố, tạm giam đã nhiều tháng nhưng vụ án vẫn “đang điều tra” là tình huống khiến nhiều gia đình lo lắng và không biết việc kéo dài có đúng luật hay không. Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021 và 2025) quy định rất chặt về thời hạn điều tra, số lần và thời gian mỗi lần gia hạn điều tra theo loại tội phạm. Bài viết tổng hợp đầy đủ các mốc thời hạn tại Điều 172, 173, 174, thẩm quyền gia hạn mới theo mô hình Viện kiểm sát 3 cấp từ 01/7/2025 và quyền của bị can, người thân khi vụ án bị kéo dài.

Thời hạn điều tra vụ án hình sự là bao lâu theo từng loại tội?

Khoản 1 Điều 172 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định thời hạn điều tra vụ án hình sự tính từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra, phụ thuộc vào loại tội phạm được phân loại theo Điều 9 Bộ luật Hình sự 2015 (căn cứ mức cao nhất của khung hình phạt):

Loại tội phạm (Điều 9 BLHS) Mức cao nhất của khung hình phạt Thời hạn điều tra ban đầu
Ít nghiêm trọng Phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc tù đến 03 năm Không quá 02 tháng
Nghiêm trọng Tù trên 03 năm đến 07 năm Không quá 03 tháng
Rất nghiêm trọng Tù trên 07 năm đến 15 năm Không quá 04 tháng
Đặc biệt nghiêm trọng Tù trên 15 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình Không quá 04 tháng

Loại tội được xác định theo tội danh và khoản mà bị can bị khởi tố, không phải theo mức án dự kiến. Ví dụ bị khởi tố về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 (tù đến 03 năm) là tội ít nghiêm trọng, thời hạn điều tra 02 tháng; nếu bị thay đổi quyết định khởi tố sang khoản 2 (tù đến 07 năm) thì vụ án chuyển thành tội nghiêm trọng và thời hạn được tính lại theo loại tội mới, nhưng tổng thời hạn không vượt quá thời hạn quy định cho loại tội đó.

Gia hạn điều tra được mấy lần, mỗi lần bao lâu?

Khi vụ án có tính chất phức tạp cần kéo dài thời gian điều tra, khoản 2 Điều 172 cho phép gia hạn với số lần và thời gian tối đa khác nhau theo loại tội. Đây là phần mà nhiều bài viết trên mạng ghi sai (ví dụ “tối đa 8, 12, 16, 24 tháng” hoặc “Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao gia hạn thêm 6 tháng”). Quy định đúng như sau:

Loại tội Thời hạn ban đầu Số lần gia hạn Thời gian mỗi lần Tổng tối đa (kể cả gia hạn)
Ít nghiêm trọng 02 tháng 01 lần Không quá 02 tháng 04 tháng
Nghiêm trọng 03 tháng 02 lần Lần 1 không quá 03 tháng; lần 2 không quá 02 tháng 08 tháng
Rất nghiêm trọng 04 tháng 02 lần Mỗi lần không quá 04 tháng 12 tháng
Đặc biệt nghiêm trọng 04 tháng 03 lần Mỗi lần không quá 04 tháng 16 tháng (có thể thêm 04 tháng trong trường hợp đặc biệt, xem dưới)

Hai trường hợp gia hạn đặc biệt do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định:

  • Tội đặc biệt nghiêm trọng mà thời hạn gia hạn điều tra đã hết nhưng do tính chất rất phức tạp của vụ án chưa thể kết thúc điều tra: gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng. Như vậy tổng thời hạn điều tra tối đa có thể lên tới 20 tháng.
  • Tội xâm phạm an ninh quốc gia: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng.

Lưu ý: thời hạn điều tra khác với thời hạn tạm giam. Hết thời hạn tạm giam mà chưa hết thời hạn điều tra thì bị can phải được trả tự do hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn khác (cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm), việc điều tra vẫn tiếp tục.

Thủ tục gia hạn điều tra và thẩm quyền của Viện kiểm sát từ 01/7/2025

  1. Cơ quan điều tra lập văn bản đề nghị gia hạn nêu rõ lý do, công việc điều tra còn phải thực hiện, gửi Viện kiểm sát có thẩm quyền chậm nhất 10 ngày trước khi hết thời hạn điều tra (khoản 2 Điều 172).
  2. Viện kiểm sát xem xét căn cứ, tính chất phức tạp của vụ án; nếu không có căn cứ thì không gia hạn và yêu cầu Cơ quan điều tra kết thúc điều tra hoặc đình chỉ.
  3. Ra quyết định gia hạn điều tra ghi rõ thời hạn gia hạn; quyết định được giao cho bị can và gửi cho Cơ quan điều tra, cơ sở giam giữ (nếu đồng thời gia hạn tạm giam).
  4. Thông báo cho người bào chữa, bị can về việc gia hạn; bị can và người bào chữa có quyền khiếu nại nếu cho rằng việc gia hạn không có căn cứ.

Từ 01/7/2025, hệ thống Viện kiểm sát nhân dân chuyển sang mô hình 3 cấp (tối cao, cấp tỉnh, khu vực) theo Luật số 82/2025/QH15, và Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi Điều 172 Bộ luật Tố tụng hình sự để thay “Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện” bằng “Viện kiểm sát nhân dân khu vực”. Thẩm quyền gia hạn hiện nay:

Loại tội Viện kiểm sát có thẩm quyền gia hạn
Ít nghiêm trọng Viện kiểm sát nhân dân khu vực, Viện kiểm sát quân sự khu vực. Vụ án do Viện kiểm sát cấp tỉnh, cấp quân khu thực hành quyền công tố thì cấp đó gia hạn.
Nghiêm trọng Viện kiểm sát nhân dân khu vực gia hạn lần thứ nhất và lần thứ hai. Vụ án do cấp tỉnh thực hành quyền công tố thì Viện kiểm sát cấp tỉnh gia hạn cả hai lần.
Rất nghiêm trọng Viện kiểm sát nhân dân khu vực gia hạn lần thứ nhất; Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh gia hạn lần thứ hai. Vụ án do cấp tỉnh thụ lý thì cấp tỉnh gia hạn cả hai lần.
Đặc biệt nghiêm trọng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn lần thứ nhất và lần thứ hai; Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương gia hạn lần thứ ba.
Vụ án do Cơ quan điều tra Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thụ lý Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương gia hạn.

Thời hạn tạm giam để điều tra có trùng với thời hạn điều tra không?

Không hoàn toàn. Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định thời hạn tạm giam để điều tra ban đầu bằng thời hạn điều tra (02, 03, 04, 04 tháng), nhưng số lần và thời gian gia hạn tạm giam ngắn hơn gia hạn điều tra:

Loại tội Tạm giam ban đầu Gia hạn tạm giam Tổng tạm giam tối đa giai đoạn điều tra
Ít nghiêm trọng Không quá 02 tháng 01 lần, không quá 01 tháng 03 tháng
Nghiêm trọng Không quá 03 tháng 01 lần, không quá 02 tháng 05 tháng
Rất nghiêm trọng Không quá 04 tháng 01 lần, không quá 03 tháng 07 tháng
Đặc biệt nghiêm trọng Không quá 04 tháng 02 lần, mỗi lần không quá 04 tháng 12 tháng (tội xâm phạm an ninh quốc gia có thể gia hạn thêm)

Từ 01/7/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực có quyền gia hạn tạm giam với tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng; Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh gia hạn tạm giam lần thứ nhất với tội đặc biệt nghiêm trọng (điểm a khoản 3 Điều 173 sửa đổi bởi Luật số 99/2025/QH15). Khi hết thời hạn tạm giam mà việc điều tra chưa xong, Cơ quan điều tra phải trả tự do cho bị can hoặc đề nghị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác; tiếp tục giam giữ là trái pháp luật và bị can, người bào chữa có quyền khiếu nại.

Hết thời hạn điều tra mà chưa kết thúc được thì xử lý thế nào?

Thời hạn điều tra “đã hết” được hiểu là hết cả thời hạn ban đầu và thời hạn gia hạn theo Điều 172. Khi đó Cơ quan điều tra bắt buộc phải ra một trong các quyết định sau:

Tình huống Quyết định Căn cứ
Đã đủ chứng cứ xác định tội phạm, bị can Bản kết luận điều tra đề nghị truy tố, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát Điều 232, 233
Hết thời hạn mà không chứng minh được bị can thực hiện tội phạm; hoặc có căn cứ không khởi tố tại Điều 157; được miễn trách nhiệm hình sự Đình chỉ điều tra, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, trả tự do Điều 230; khoản 7 Điều 172
Chưa xác định được bị can hoặc không biết rõ bị can đang ở đâu khi hết thời hạn điều tra Tạm đình chỉ điều tra; nếu bị can bỏ trốn thì ra quyết định truy nã trước khi tạm đình chỉ Điều 229, Điều 231
Bị can mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo; đang chờ kết luận giám định, định giá tài sản, tương trợ tư pháp Tạm đình chỉ điều tra (có thể trước khi hết thời hạn) Khoản 1 Điều 229

Lưu ý về truy nã: khi bị can bỏ trốn hoặc không biết rõ đang ở đâu, Cơ quan điều tra phải ra quyết định truy nã ngay khi có căn cứ, không chờ hết thời hạn điều tra; nếu đến khi hết thời hạn điều tra vẫn chưa bắt được thì tạm đình chỉ điều tra đối với bị can đó. Vụ án có nhiều bị can mà chỉ một người bỏ trốn thì tách vụ án để tiếp tục xử lý những bị can còn lại.

Thời hạn điều tra bổ sung, điều tra lại được tính thế nào?

Điều 174 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định riêng về thời hạn điều tra bổ sung, điều tra lại, không tính vào thời hạn điều tra ban đầu:

  • Viện kiểm sát trả hồ sơ để điều tra bổ sung: thời hạn điều tra bổ sung không quá 02 tháng kể từ ngày Cơ quan điều tra nhận lại hồ sơ; Viện kiểm sát chỉ được trả hồ sơ tối đa 02 lần.
  • Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung: thời hạn không quá 01 tháng; Tòa án cũng chỉ được trả hồ sơ tối đa 02 lần.
  • Điều tra lại (do Tòa án cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm hủy án để điều tra lại): thời hạn điều tra và gia hạn được tính lại theo thủ tục chung tại Điều 172, kể từ ngày Cơ quan điều tra nhận hồ sơ và yêu cầu điều tra lại.
  • Thời hạn truy tố sau khi nhận kết luận điều tra (Điều 240): 20 ngày với tội ít nghiêm trọng và nghiêm trọng, 30 ngày với tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng; có thể gia hạn không quá 10, 15, 30 ngày tương ứng.

Bị can, người thân có quyền gì khi vụ án bị kéo dài?

  1. Yêu cầu được biết quyết định gia hạn: quyết định gia hạn điều tra, gia hạn tạm giam phải được giao cho bị can; người bào chữa có quyền đọc, ghi chép và sao chụp tài liệu liên quan trong hồ sơ (Điều 73).
  2. Khiếu nại việc gia hạn, tạm giam quá hạn tới Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc cấp trên trực tiếp theo Chương XXXIII Bộ luật Tố tụng hình sự; thời hạn giải quyết khiếu nại là 07 ngày, với khiếu nại biện pháp tạm giam là 24 giờ.
  3. Đề nghị thay đổi biện pháp ngăn chặn: bảo lĩnh (Điều 121), đặt tiền để bảo đảm (Điều 122), cấm đi khỏi nơi cư trú (Điều 123) khi bị can có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt, phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng.
  4. Mời luật sư bào chữa ngay từ khi bị tạm giữ, khởi tố: luật sư giám sát việc tuân thủ thời hạn, phát hiện gia hạn sai thẩm quyền, tạm giam quá hạn và yêu cầu trả tự do cho bị can.

Bài viết liên quan

Câu hỏi thường gặp

Thời hạn điều tra vụ án hình sự là bao lâu?

Theo khoản 1 Điều 172 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, thời hạn điều tra không quá 02 tháng với tội ít nghiêm trọng, 03 tháng với tội nghiêm trọng, 04 tháng với tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng, tính từ khi khởi tố vụ án đến khi kết thúc điều tra. Loại tội xác định theo khung hình phạt của điều khoản bị khởi tố (Điều 9 Bộ luật Hình sự).

Gia hạn điều tra tối đa bao nhiêu lần, mỗi lần bao lâu?

Khoản 2 Điều 172: tội ít nghiêm trọng gia hạn 01 lần không quá 02 tháng; tội nghiêm trọng gia hạn 02 lần, lần 1 không quá 03 tháng, lần 2 không quá 02 tháng; tội rất nghiêm trọng gia hạn 02 lần, mỗi lần không quá 04 tháng; tội đặc biệt nghiêm trọng gia hạn 03 lần, mỗi lần không quá 04 tháng. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể gia hạn thêm 01 lần không quá 04 tháng với tội đặc biệt nghiêm trọng rất phức tạp hoặc tội xâm phạm an ninh quốc gia.

Tổng thời hạn điều tra vụ án hình sự tối đa là bao lâu?

Kể cả gia hạn, tổng thời hạn điều tra tối đa là 04 tháng với tội ít nghiêm trọng, 08 tháng với tội nghiêm trọng, 12 tháng với tội rất nghiêm trọng và 16 tháng với tội đặc biệt nghiêm trọng; trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, rất phức tạp được Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao gia hạn thêm 04 tháng thì tối đa 20 tháng. Thời hạn điều tra bổ sung, điều tra lại được tính riêng theo Điều 174.

Ai có thẩm quyền gia hạn điều tra từ 01/7/2025?

Theo Điều 172 Bộ luật Tố tụng hình sự được sửa đổi bởi Luật số 99/2025/QH15: Viện kiểm sát nhân dân khu vực gia hạn với tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng (cả 2 lần) và lần thứ nhất của tội rất nghiêm trọng; Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh gia hạn lần thứ hai tội rất nghiêm trọng và lần 1, lần 2 tội đặc biệt nghiêm trọng; Viện kiểm sát nhân dân tối cao gia hạn lần thứ ba tội đặc biệt nghiêm trọng và các vụ án do Cơ quan điều tra Bộ Công an, Bộ Quốc phòng thụ lý.

Hết thời hạn điều tra mà chưa kết thúc điều tra thì sao?

Cơ quan điều tra phải ra quyết định đình chỉ điều tra nếu hết thời hạn mà không chứng minh được bị can phạm tội (Điều 230), hoặc tạm đình chỉ điều tra nếu chưa xác định được bị can, không biết bị can ở đâu (Điều 229) sau khi đã ra quyết định truy nã (Điều 231). Bị can đang bị tạm giam phải được trả tự do hoặc thay bằng biện pháp ngăn chặn khác khi hết thời hạn tạm giam.

Thời hạn tạm giam để điều tra có bằng thời hạn điều tra không?

Thời hạn tạm giam ban đầu bằng thời hạn điều tra (02, 03, 04 tháng theo loại tội) nhưng gia hạn tạm giam ngắn hơn theo Điều 173: tội ít nghiêm trọng gia hạn 01 lần không quá 01 tháng; tội nghiêm trọng 01 lần không quá 02 tháng; tội rất nghiêm trọng 01 lần không quá 03 tháng; tội đặc biệt nghiêm trọng 02 lần, mỗi lần không quá 04 tháng. Hết thời hạn tạm giam thì phải trả tự do hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn khác dù việc điều tra chưa xong.

Viện kiểm sát, Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung thì thời hạn bao lâu?

Theo Điều 174 Bộ luật Tố tụng hình sự, Viện kiểm sát trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì thời hạn không quá 02 tháng, Tòa án trả hồ sơ thì không quá 01 tháng kể từ ngày Cơ quan điều tra nhận lại hồ sơ; mỗi cơ quan chỉ được trả hồ sơ tối đa 02 lần. Điều tra lại sau khi án bị hủy được tính thời hạn theo thủ tục chung tại Điều 172.

Người thân bị tạm giam kéo dài, vụ án gia hạn điều tra nhiều lần? Cần luật sư bào chữa

Luật sư hình sự Công ty Luật Đỗ Gia Việt kiểm tra tính hợp pháp của từng quyết định gia hạn điều tra, gia hạn tạm giam, khiếu nại việc giam giữ quá hạn, đề nghị thay đổi biện pháp ngăn chặn và bào chữa cho bị can ngay từ giai đoạn điều tra. Gọi hotline 094.445.0105 hoặc gửi yêu cầu qua trang liên hệ.

Lưu ý: Nội dung mang tính tham khảo chung, cập nhật theo quy định tại thời điểm đăng tải; không thay thế tư vấn cho một vụ việc cụ thể.

Hãy là người đầu tiên đánh giá bài viết này.
Cần tư vấn thêm về nội dung này?

Luật Đỗ Gia Việt tiếp nhận và tư vấn nhanh chóng, bảo mật.