Tội cố ý gây thương tích quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự, mức thấp nhất là cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc tù 06 tháng – 03 năm, cao nhất là tù 12 – 20 năm hoặc tù chung thân. Tỷ lệ tổn thương cơ thể theo kết luận giám định và các tình tiết định khung (hung khí nguy hiểm, có tổ chức, côn đồ…) là hai yếu tố quyết định khung hình phạt, nên luật sư bào chữa thường tập trung vào kết luận giám định, diễn biến vụ việc và tình tiết giảm nhẹ ngay từ giai đoạn điều tra.
- Khoản 1 — cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc tù 06 tháng – 03 năm: tổn thương 11% – 30%, hoặc dưới 11% nhưng thuộc 10 trường hợp tại điểm a – k khoản 1.
- Khởi tố theo yêu cầu bị hại: chỉ áp dụng với khoản 1 Điều 134 (khoản 1 Điều 155 BLTTHS) — bị hại rút yêu cầu thì vụ án được đình chỉ.
- Khoản 2 đến khoản 5: tù 02 – 06 năm, 05 – 10 năm, 07 – 14 năm và 12 – 20 năm hoặc tù chung thân.
- Chuẩn bị phạm tội (vũ khí, a-xít, lập nhóm…): cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc tù 03 tháng – 02 năm (khoản 6).
- Bắt buộc có người bào chữa khi bị truy tố theo khoản 5 (khung cao nhất tù chung thân) — Điều 76 BLTTHS.
Các vụ đánh nhau, xô xát gây thương tích thường xảy ra bất ngờ, nhưng hậu quả pháp lý có thể rất nặng: chỉ cần dùng hung khí nguy hiểm hoặc phạm tội có tính chất côn đồ, người gây thương tích dưới 11% vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Bài viết tổng hợp Điều 134 theo văn bản hợp nhất Bộ luật Hình sự hiện hành, cách xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể, thủ tục khởi tố và những việc luật sư bào chữa thực hiện trong từng giai đoạn tố tụng.
Cố ý gây thương tích bao nhiêu phần trăm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự?
Theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 (sửa đổi, bổ sung bởi khoản 22 Điều 1 Luật số 12/2017/QH14), người cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tổn thương dưới 11% vẫn bị truy cứu nếu thuộc một trong các trường hợp:
- a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
- b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;
- c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
- d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;
- đ) Có tổ chức;
- e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
- g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
- h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích do được thuê;
- i) Có tính chất côn đồ;
- k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
Không thuộc các trường hợp trên mà tổn thương dưới 11% thì người gây thương tích thường chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính và phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe. Xem thêm: Cố ý gây thương tích bao nhiêu phần trăm thì bị truy cứu?
Tỷ lệ tổn thương cơ thể nay xác định theo Thông tư 22/2019/TT-BYT. Nhiều bài viết cũ vẫn dẫn Thông tư 20/2014/TT-BYT, nhưng văn bản này đã bị thay thế bởi Thông tư 22/2019/TT-BYT từ ngày 01/11/2019. Kết luận giám định pháp y là chứng cứ then chốt; nếu có căn cứ nghi ngờ, người bị buộc tội và luật sư có quyền đề nghị giám định bổ sung hoặc giám định lại.
Khung hình phạt tội cố ý gây thương tích theo Điều 134 BLHS
| Khoản | Mức hình phạt | Các trường hợp chính |
|---|---|---|
| Khoản 1 | Cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc tù 06 tháng – 03 năm | Tổn thương 11% – 30%; hoặc dưới 11% thuộc điểm a – k khoản 1 |
| Khoản 2 | Tù 02 – 06 năm | Tổn thương 31% – 60%; 02 người trở lên mỗi người 11% – 30%; phạm tội 02 lần trở lên; tái phạm nguy hiểm; 11% – 30% kèm tình tiết điểm a – k khoản 1 |
| Khoản 3 | Tù 05 – 10 năm | Tổn thương từ 61% trở lên (trừ trường hợp biến dạng vùng mặt); 02 người trở lên mỗi người 31% – 60%; 31% – 60% kèm tình tiết khoản 1; 02 người trở lên mỗi người 11% – 30% kèm tình tiết khoản 1 |
| Khoản 4 | Tù 07 – 14 năm | Làm chết người; gây biến dạng vùng mặt từ 61% trở lên; 02 người trở lên mỗi người từ 61%; từ 61% kèm tình tiết khoản 1; 02 người trở lên mỗi người 31% – 60% kèm tình tiết khoản 1 |
| Khoản 5 | Tù 12 – 20 năm hoặc tù chung thân | Làm chết 02 người trở lên; 02 người trở lên mỗi người từ 61% kèm tình tiết khoản 1 |
| Khoản 6 | Cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc tù 03 tháng – 02 năm | Chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí, a-xít, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích |
Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi Bộ luật Hình sự từ ngày 01/7/2025 không sửa Điều 134. Cần phân biệt với các tội có hình phạt nhẹ hơn: gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 135), do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 136), trong khi thi hành công vụ (Điều 137) và vô ý gây thương tích (Điều 138). Xác định đúng tội danh là một trong những hướng bào chữa quan trọng nhất.
Khi nào vụ án cố ý gây thương tích chỉ khởi tố theo yêu cầu của bị hại?
Theo khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, tội phạm tại khoản 1 Điều 134 chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết. Nếu người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ khi có căn cứ cho thấy việc rút yêu cầu là trái ý muốn do bị ép buộc, cưỡng bức; người đã rút yêu cầu thì không có quyền yêu cầu lại.
Từ khoản 2 đến khoản 6 Điều 134, cơ quan có thẩm quyền khởi tố mà không phụ thuộc yêu cầu của bị hại. Khi đó, việc bị hại bãi nại, xin giảm nhẹ và việc bồi thường thiệt hại chỉ là tình tiết giảm nhẹ khi quyết định hình phạt (điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS).
Gia đình cần làm gì khi người thân bị bắt vì tội cố ý gây thương tích?
- Xác định cơ quan đang thụ lý và tình trạng tố tụng. Hỏi rõ người thân đang bị giữ tại đâu, đã có quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, lệnh tạm giữ hay tạm giam chưa.
- Mời luật sư và đăng ký bào chữa sớm. Người thân có thể ký hợp đồng mời luật sư thay cho người bị bắt. Theo Điều 78 BLTTHS, trong 24 giờ kể từ khi nhận đủ giấy tờ, cơ quan có thẩm quyền phải thông báo cho người bào chữa hoặc từ chối bằng văn bản nêu rõ lý do. Xem Thủ tục nhờ luật sư bào chữa.
- Thu thập chứng cứ về diễn biến vụ việc. Camera, người làm chứng, tin nhắn đe dọa trước đó, thương tích của chính người bị buộc tội — những tài liệu này có thể làm rõ yếu tố tự vệ, bị kích động hoặc lỗi của bị hại.
- Kiểm tra kết luận giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể. Luật sư đối chiếu kết luận với bảng tỷ lệ tại Thông tư 22/2019/TT-BYT, hồ sơ bệnh án và thời điểm giám định; đề nghị giám định lại nếu có căn cứ.
- Chủ động thăm hỏi, bồi thường cho bị hại. Chi phí điều trị, thu nhập bị mất, tổn thất tinh thần — có văn bản ghi nhận. Với khoản 1, thỏa thuận này có thể dẫn tới việc bị hại rút yêu cầu khởi tố.
- Đề nghị thay đổi biện pháp ngăn chặn. Với vụ án ít nghiêm trọng, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, luật sư có thể đề nghị cho bảo lĩnh hoặc đặt tiền để bảo đảm — xem Thủ tục bảo lĩnh tại ngoại.
Đánh trả khi bị tấn công có phải tội cố ý gây thương tích? Không phải trong mọi trường hợp. Hành vi chống trả cần thiết để bảo vệ mình hoặc người khác là phòng vệ chính đáng (Điều 22 BLHS) và không phải tội phạm; nếu chống trả rõ ràng quá mức cần thiết thì có thể chuyển sang Điều 136 với hình phạt nhẹ hơn nhiều. Đây là nội dung luật sư cần làm rõ ngay từ lời khai đầu tiên.
Luật sư bào chữa vụ án cố ý gây thương tích làm những gì?
| Giai đoạn | Công việc chính của luật sư |
|---|---|
| Điều tra | Đăng ký bào chữa; gặp người bị tạm giữ, tạm giam; tham dự lấy lời khai, hỏi cung; kiểm tra kết luận giám định thương tích; đề nghị giám định lại, đối chất, thu thập chứng cứ về phòng vệ hoặc bị kích động; đề nghị thay đổi biện pháp ngăn chặn |
| Truy tố | Nghiên cứu hồ sơ, đối chiếu tội danh và khoản bị đề nghị truy tố; kiến nghị Viện kiểm sát áp dụng đúng điều luật (134, 135 hay 136) |
| Xét xử sơ thẩm | Tranh tụng tại phiên tòa TAND khu vực (thẩm quyền sơ thẩm từ 01/7/2025); trình bày tình tiết giảm nhẹ theo Điều 51 BLHS; đề nghị mức án phù hợp hoặc án treo nếu đủ điều kiện theo Điều 65 BLHS |
| Phúc thẩm | Soạn đơn kháng cáo, bổ sung chứng cứ mới, bào chữa tại phiên tòa phúc thẩm |
Trường hợp người bị hại cần bảo vệ quyền lợi (tố giác, yêu cầu khởi tố, đòi bồi thường), vui lòng xem bài Bị đánh gây thương tích: thủ tục tố giác, khởi tố và đòi bồi thường.
Bài viết liên quan
- Tư vấn về tội cố ý gây thương tích theo quy định mới nhất
- Cố ý gây thương tích bao nhiêu phần trăm thì bị truy cứu?
- Luật sư bào chữa cho đồng phạm trong vụ án cố ý gây thương tích
- Các trường hợp bắt buộc phải có luật sư bào chữa
Câu hỏi thường gặp
Tội cố ý gây thương tích bị phạt bao nhiêu năm tù?
Theo Điều 134 Bộ luật Hình sự: khoản 1 phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc tù từ 06 tháng đến 03 năm; khoản 2 tù từ 02 năm đến 06 năm; khoản 3 tù từ 05 năm đến 10 năm; khoản 4 tù từ 07 năm đến 14 năm; khoản 5 tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. Người chuẩn bị phạm tội bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc tù từ 03 tháng đến 02 năm.
Cố ý gây thương tích dưới 11% có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
Có, nếu thuộc một trong các trường hợp tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự như dùng vũ khí, hung khí nguy hiểm; dùng a-xít, hóa chất nguy hiểm; phạm tội với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu; có tổ chức; thuê hoặc được thuê gây thương tích; có tính chất côn đồ; đối với người đang thi hành công vụ. Không thuộc các trường hợp này thì thường chỉ bị xử phạt hành chính và phải bồi thường.
Bị hại rút đơn thì vụ án cố ý gây thương tích có được đình chỉ không?
Chỉ được đình chỉ khi vụ án thuộc khoản 1 Điều 134, vì đây là trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự. Nếu rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức thì vụ án vẫn tiếp tục. Từ khoản 2 trở lên, việc bị hại rút đơn không làm chấm dứt vụ án mà chỉ được xem xét là tình tiết giảm nhẹ.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể được xác định theo văn bản nào?
Tỷ lệ tổn thương cơ thể trong giám định pháp y hiện xác định theo Thông tư 22/2019/TT-BYT của Bộ Y tế, có hiệu lực từ ngày 01/11/2019 và thay thế Thông tư 20/2014/TT-BYT. Kết luận giám định là căn cứ quan trọng nhất để định khung; người bị buộc tội và luật sư có quyền đề nghị giám định bổ sung hoặc giám định lại nếu có căn cứ.
Đánh trả khi bị tấn công có bị xử lý tội cố ý gây thương tích không?
Hành vi chống trả cần thiết để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc người khác là phòng vệ chính đáng theo Điều 22 Bộ luật Hình sự và không phải tội phạm. Nếu chống trả rõ ràng quá mức cần thiết gây thương tích từ 31% trở lên thì có thể bị xử lý theo Điều 136 với hình phạt nhẹ hơn nhiều so với Điều 134.
Phạm tội cố ý gây thương tích lần đầu có được hưởng án treo không?
Có thể. Theo Điều 65 Bộ luật Hình sự, Tòa án có thể cho hưởng án treo khi mức phạt tù không quá 03 năm, người phạm tội có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng và xét thấy không cần bắt chấp hành hình phạt tù. Việc đã bồi thường, được bị hại xin giảm nhẹ là căn cứ quan trọng để luật sư đề nghị án treo.
Cần luật sư bào chữa vụ án cố ý gây thương tích?
Luật sư hình sự của Công ty Luật Đỗ Gia Việt nhận bào chữa từ giai đoạn điều tra: đăng ký bào chữa, gặp người bị tạm giam, kiểm tra kết luận giám định thương tích, hướng dẫn gia đình thương lượng bồi thường với bị hại và đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ. Gọi hotline 094.445.0105 hoặc gửi yêu cầu qua trang liên hệ.
Lưu ý: Nội dung mang tính tham khảo chung, cập nhật theo quy định tại thời điểm đăng tải; không thay thế tư vấn cho một vụ việc cụ thể.
