Góc tư vấn

Dùng vũ khí đập vào đầu người khác có phải dùng hung khí nguy hiểm? (Điều 134 BLHS)

Tác giả: Hồng Xuân Kiểm duyệt: Luật sư Đỗ Ngọc Anh 23/01/2021 14 phút đọc Cập nhật 19/10/2026
Dùng vũ khí đập vào đầu người khác có phải dùng hung khí nguy hiểm? (Điều 134 BLHS)
Trả lời nhanh

Dùng vũ khí hoặc vật cứng, sắc nhọn đánh vào đầu người khác thường bị xác định là tình tiết “dùng vũ khí, hung khí nguy hiểm” tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, nên dù tỷ lệ tổn thương dưới 11% vẫn có thể bị truy cứu tội cố ý gây thương tích. Nếu công cụ, vị trí và cường độ tấn công cho thấy ý thức tước đoạt tính mạng, hành vi có thể bị xử lý về tội giết người (Điều 123).

  • Dưới 11% + hung khí nguy hiểm: cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc tù 06 tháng – 03 năm (khoản 1 Điều 134).
  • 11%–30% + hung khí nguy hiểm: tù 02 – 06 năm (điểm đ khoản 2).
  • 31%–60% + hung khí nguy hiểm: tù 05 – 10 năm (điểm c khoản 3).
  • Từ 61% + hung khí nguy hiểm: tù 07 – 14 năm (điểm d khoản 4).
  • “Hung khí nguy hiểm”: thực tiễn xét xử vẫn tham khảo hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP — búa, dao, thanh sắt, gạch đá, gậy cứng…

Trong các vụ xô xát, người gây án thường dùng bất cứ thứ gì trong tầm tay: dao, gậy, chai, gạch, thậm chí báng súng. Câu hỏi đặt ra là đập vật đó vào đầu người khác có bị coi là “dùng hung khí nguy hiểm” hay không — vì chỉ riêng tình tiết này đã có thể biến một vụ thương tích nhẹ thành vụ án hình sự hoặc đẩy mức án lên khung cao hơn. Bài viết phân tích theo Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và thực tiễn xét xử.

Hung khí nguy hiểm là gì?

Điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định tình tiết “Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người”. Bộ luật Hình sự 2015 tách riêng “vũ khí” và “hung khí nguy hiểm” nhưng chưa có văn bản mới giải thích “hung khí nguy hiểm”. Thực tiễn xét xử vẫn tham khảo hướng dẫn tại tiểu mục 2.2 mục 2 Phần I Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao (ban hành cho Bộ luật Hình sự 1999), theo đó phương tiện nguy hiểm là công cụ, dụng cụ hoặc vật mà nếu dùng tấn công người khác sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe, gồm:

Nhóm Ví dụ
Công cụ, dụng cụ phục vụ sản xuất, sinh hoạt Búa đinh, dao phay, các loại dao sắc, nhọn
Vật do người phạm tội chế tạo để làm phương tiện phạm tội Thanh sắt mài nhọn, côn gỗ
Vật có sẵn trong tự nhiên mà người phạm tội có được Gạch, đá, đoạn gậy cứng chắc, thanh sắt
Vũ khí (tách riêng trong Bộ luật Hình sự 2015) Vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thể thao, vũ khí thô sơ (dao găm, kiếm, mã tấu…) theo Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ 2024

Như vậy, việc một vật có phải hung khí nguy hiểm hay không được đánh giá theo tính chất của vật và cách sử dụng: cùng là chai thủy tinh, ném trúng chân có thể khác với đập vỡ vào đầu. Cơ quan tiến hành tố tụng thường căn cứ vật chứng, lời khai, kết luận giám định thương tích và cơ chế hình thành vết thương.

Dùng vũ khí đập vào đầu người khác bị xử lý tội gì?

Nếu vật dùng để đập là vũ khí (ví dụ súng, dao găm, kiếm) thì hành vi thỏa mãn tình tiết “dùng vũ khí” ngay cả khi người phạm tội không bắn, không đâm mà dùng nó như vật đập. Nếu là vật thông thường, cần đánh giá vật đó có phải hung khí nguy hiểm theo các tiêu chí trên. Tiếp theo, phải xác định tội danh:

  • Tội cố ý gây thương tích (Điều 134) khi người phạm tội chỉ nhằm gây thương tích, tổn hại sức khỏe;
  • Tội giết người (Điều 123), kể cả giết người chưa đạt, khi người phạm tội mong muốn hoặc có ý thức để mặc hậu quả chết người xảy ra. Đầu là vùng trọng yếu; tấn công dồn dập, cường độ mạnh bằng hung khí có tính sát thương cao vào đầu là dấu hiệu cơ quan điều tra thường xem xét. Khoản 1 Điều 123 có khung phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.

Ranh giới giữa hai tội phụ thuộc vào lỗi (ý thức chủ quan), loại hung khí, vị trí, cường độ, số lần tấn công, hành vi sau khi gây án (dừng lại hay tiếp tục, có cứu chữa nạn nhân không). Đây là điểm luật sư bào chữa thường tập trung tranh luận. Xem thêm: Luật sư bào chữa tội cố ý gây thương tích.

Dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích bị phạt bao nhiêu năm tù?

Tỷ lệ tổn thương cơ thể (có dùng vũ khí/hung khí nguy hiểm) Khung hình phạt Căn cứ
Dưới 11% Cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc tù 06 tháng – 03 năm Điểm a khoản 1 Điều 134
11% – 30% Tù 02 – 06 năm Điểm đ khoản 2 Điều 134
31% – 60% Tù 05 – 10 năm Điểm c khoản 3 Điều 134
Từ 61% trở lên Tù 07 – 14 năm Điểm d khoản 4 Điều 134
Làm chết người Tù 07 – 14 năm (chết 02 người trở lên: 12 – 20 năm hoặc chung thân) Điểm a khoản 4, điểm a khoản 5 Điều 134
Chỉ chuẩn bị vũ khí, hung khí nguy hiểm nhằm gây thương tích Cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc tù 03 tháng – 02 năm Khoản 6 Điều 134

Tình tiết định khung không bị tính lại là tình tiết tăng nặng. Khi “dùng hung khí nguy hiểm” đã được dùng để định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết tăng nặng thêm một lần nữa (khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự).

Không bị truy cứu hình sự thì bị xử lý thế nào?

Trường hợp tỷ lệ tổn thương dưới 11% và không xác định được tình tiết dùng hung khí nguy hiểm hoặc các tình tiết khác tại khoản 1 Điều 134, người gây thương tích bị xử phạt vi phạm hành chính. Hiện nay áp dụng Nghị định 282/2025/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 15/12/2025, thay thế Nghị định 144/2021/NĐ-CP): hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự bị phạt tiền từ 6.000.000 đến 8.000.000 đồng. Người gây thương tích còn phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe theo Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015.

Bị hại cần làm gì khi bị đánh bằng hung khí?

  1. Cấp cứu và giữ hồ sơ y tế. Giấy ra viện, phim chụp, hóa đơn điều trị là căn cứ giám định và đòi bồi thường.
  2. Giữ vật chứng, chứng cứ. Hung khí, ảnh hiện trường, video camera, danh sách người chứng kiến.
  3. Trình báo cơ quan công an. Làm đơn tố giác tội phạm; trường hợp thuộc khoản 1 Điều 134, cần có đơn yêu cầu khởi tố của bị hại.
  4. Giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể. Theo Thông tư 22/2019/TT-BYT; có quyền đề nghị giám định bổ sung, giám định lại nếu có căn cứ.
  5. Yêu cầu bồi thường. Chi phí cứu chữa, thu nhập bị mất, tổn thất tinh thần — xem Bị đánh gây thương tích: thủ tục tố giác, khởi tố và đòi bồi thường.

Bài viết liên quan

Câu hỏi thường gặp

Hung khí nguy hiểm là gì?

Bộ luật Hình sự 2015 chưa có văn bản mới giải thích. Thực tiễn xét xử tham khảo Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP: phương tiện nguy hiểm là công cụ, dụng cụ phục vụ sản xuất, sinh hoạt (búa đinh, dao phay, dao sắc nhọn), vật người phạm tội chế tạo ra (thanh sắt mài nhọn, côn gỗ) hoặc vật có sẵn trong tự nhiên (gạch, đá, đoạn gậy cứng chắc, thanh sắt) mà nếu dùng tấn công người khác sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe.

Dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích dưới 11% có bị đi tù không?

Có thể. Điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định gây thương tích dưới 11% nhưng dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Đây là trường hợp chỉ khởi tố theo yêu cầu của bị hại.

Dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích 11% đến 30% bị phạt bao nhiêu năm?

Phạt tù từ 02 năm đến 06 năm theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Nếu tỷ lệ từ 31% đến 60% thì tù từ 05 năm đến 10 năm (điểm c khoản 3); từ 61% trở lên thì tù từ 07 năm đến 14 năm (điểm d khoản 4).

Đánh vào đầu người khác bằng hung khí có bị xử tội giết người không?

Có thể. Nếu căn cứ vào loại hung khí, vị trí tấn công vào vùng trọng yếu như đầu, cường độ và số lần tấn công cho thấy người phạm tội mong muốn hoặc bỏ mặc cho hậu quả chết người xảy ra, hành vi có thể bị xử lý về tội giết người theo Điều 123 Bộ luật Hình sự, kể cả khi nạn nhân không chết (giết người chưa đạt).

Gây thương tích không đủ truy cứu hình sự bị phạt bao nhiêu tiền?

Theo Nghị định 282/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15/12/2025 (thay thế Nghị định 144/2021/NĐ-CP), hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự bị phạt tiền từ 6.000.000 đến 8.000.000 đồng, đồng thời phải bồi thường thiệt hại cho người bị hại.

Cần luật sư trong vụ án gây thương tích?

Luật sư Công ty Luật Đỗ Gia Việt tham gia bào chữa cho người bị buộc tội, bảo vệ quyền lợi bị hại, đánh giá tình tiết hung khí nguy hiểm, đề nghị giám định lại và thương lượng bồi thường. Gọi hotline 094.445.0105 hoặc gửi yêu cầu qua trang liên hệ.

Lưu ý: Nội dung mang tính tham khảo chung, cập nhật theo quy định tại thời điểm đăng tải; không thay thế tư vấn cho một vụ việc cụ thể.

Hãy là người đầu tiên đánh giá bài viết này.
Cần tư vấn thêm về nội dung này?

Luật Đỗ Gia Việt tiếp nhận và tư vấn nhanh chóng, bảo mật.